Thúc đẩy nghiên cứu khoa học trong trường phổ thông: Cần hệ sinh thái đồng bộ
Tuy nhiên, để hoạt động này đi vào chiều sâu, thực chất, cần giải pháp đồng bộ từ nhà trường, giáo viên đến chính sách hỗ trợ.

Thứ trưởng Thường trực Bộ GD&ĐT Phạm Ngọc Thưởng thăm khu vực trưng bày trong khuôn khổ Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh THCS, THPT năm học 2025 - 2026. Ảnh: Nguyễn Mạnh
“Chìa khóa” phát triển tư duy, năng lực
Ông Phạm Văn Đại - Phó Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Lào Cai (tỉnh Lào Cai), khẳng định việc phát hiện và bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học cho học sinh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.
Hoạt động này góp phần hình thành tư duy khoa học, tư duy phản biện và tư duy sáng tạo; giúp học sinh biết đặt câu hỏi, xây dựng giả thuyết, thu thập và xử lý dữ liệu, từ đó rút ra kết luận có cơ sở, từng bước chuyển từ tiếp nhận kiến thức thụ động sang chủ động kiến tạo tri thức.
Việc phát hiện, bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học cho học sinh còn giúp rèn luyện khả năng tìm kiếm, chọn lọc và đánh giá thông tin; hình thành thói quen học tập chủ động, có mục tiêu và phương pháp rõ ràng; đồng thời phát triển năng lực học tập suốt đời - một yêu cầu cốt lõi của Chương trình GDPT 2018.
Về định hướng nghề nghiệp, hoạt động này giúp học sinh khám phá sở thích, năng lực bản thân thông qua các đề tài nghiên cứu; tạo tiền đề cho việc lựa chọn các ngành nghề liên quan đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, đối với học sinh trường chuyên, đây là bước đệm quan trọng để tham gia các sân chơi học thuật trong nước và quốc tế.
Ông Phạm Văn Đại cho rằng, hiện nay, hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh (như cuộc thi khoa học kỹ thuật) được triển khai rộng rãi. Một số trường, đặc biệt trường chuyên, đã bước đầu hình thành câu lạc bộ nghiên cứu khoa học, nhóm học tập chuyên sâu. Học sinh có cơ hội tiếp cận với phương pháp nghiên cứu, bước đầu hình thành tư duy khoa học.
Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường học chưa đồng đều giữa các đơn vị, chủ yếu tập trung ở một số nơi có điều kiện thuận lợi; tại một số trường còn mang tính phong trào. Thiếu hệ thống phát hiện sớm học sinh có năng lực nghiên cứu.
Đội ngũ giáo viên còn hạn chế về kinh nghiệm hướng dẫn, đặc biệt trong các lĩnh vực nghiên cứu liên ngành. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất và kinh phí còn thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu của hoạt động nghiên cứu thực nghiệm. Ngoài ra, một bộ phận học sinh tham gia nghiên cứu khoa học còn mang tính đối phó, chạy theo thành tích, chưa thực sự xuất phát từ đam mê và hứng thú.
Cô Nguyễn Thị Thu Trang - Tổ trưởng tổ Khoa học tự nhiên, Trường THCS - THPT Ban Mai (Hà Nội), đánh giá những năm gần đây, hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật tại các trường phổ thông ở Hà Nội được sự quan tâm và phát triển. Thực tế cho thấy, phong trào này đang có chuyển động tích cực cả về chiều rộng và chiều sâu.
Số lượng dự án tham gia các cuộc thi nghiên cứu khoa học kỹ thuật ngày càng tăng. Số sản phẩm của Hà Nội đoạt giải cấp quốc gia cũng tăng cả về số lượng và lĩnh vực (như: AI, IoT, vật liệu xanh, môi trường, sức khỏe tâm lý, khoa học xã hội…). Điều đó cho thấy, học sinh phổ thông hiện nay không thiếu ý tưởng và cũng không thiếu khát vọng tiếp cận khoa học.
Tuy nhiên, theo cô Nguyễn Thị Thu Trang, hoạt động này còn nhiều điểm hạn chế cần khắc phục. Thứ nhất, ở không ít nơi, nghiên cứu khoa học vẫn mang tính phong trào ngắn hạn, rầm rộ lên trước cuộc thi rồi lắng xuống sau cuộc thi. Thứ hai, chất lượng đề tài còn phân hóa mạnh giữa các trường và giữa các nhóm giáo viên hướng dẫn.
Thứ ba, nhiều sản phẩm mới dừng ở mức ý tưởng hay mô hình minh họa, trong khi điều học sinh cần được rèn là quy trình nghiên cứu bài bản: Tổng quan tài liệu, thiết kế phương pháp, thu thập dữ liệu, phân tích, phản biện và giới hạn kết luận.
Thứ tư, chúng ta vẫn còn tình trạng có thiết bị nhưng khai thác chưa hiệu quả; có phòng thực hành nhưng học sinh chưa có đủ thời gian để thực hành thật, chất lượng các giờ thực hành chưa cao. Thứ năm, học sinh chưa có năng lực tiếng Anh cao để có thể tiếp cận các nguồn tài liệu khoa học quốc tế để tự nghiên cứu và tìm hiểu.

Ảnh minh họa INT.
Xây dựng hệ sinh thái đồng bộ
Là người nhiều năm trực tiếp hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học, cô Phạm Nguyễn Trang Ngân - giáo viên Trường THPT A Lưới (TP Huế), cho rằng để nâng cao hiệu quả phát hiện, bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học cho học sinh cần sự phối hợp đồng bộ từ nhiều phía.
Về phía nhà trường, cần xây dựng môi trường học tập khuyến khích nghiên cứu, như tổ chức các câu lạc bộ khoa học, tạo điều kiện cho học sinh tham gia các dự án thực tiễn, đồng thời tăng cường liên kết với các trường đại học và đơn vị nghiên cứu.
Với giáo viên, mỗi thầy cô cần chuyển vai trò từ truyền đạt kiến thức sang hướng dẫn và đồng hành cùng học sinh trong quá trình nghiên cứu. Đồng thời, giáo viên cần được bồi dưỡng thêm về phương pháp và kỹ năng hướng dẫn nghiên cứu khoa học.
Về chính sách, cần cơ chế hỗ trợ kinh phí, giảm định mức tiết dạy cho giáo viên hỗ trợ hoạt động nghiên cứu, từ đó ghi nhận kết quả nghiên cứu của học sinh một cách thiết thực hơn.
Có cùng quan điểm, ông Phạm Văn Đại đề xuất, nhà trường cần xây dựng chiến lược phát triển nghiên cứu khoa học cho học sinh dài hạn, gắn với định hướng trường chuyên; thành lập và duy trì hiệu quả các câu lạc bộ nghiên cứu khoa học, các nhóm nghiên cứu theo lĩnh vực như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, STEM và liên ngành.
Đồng thời, tạo dựng môi trường học thuật thông qua tổ chức hội thảo khoa học học sinh, diễn đàn trao đổi ý tưởng, ngày hội khoa học; tăng cường liên kết với các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và tận dụng nguồn lực địa phương như văn hóa, du lịch, nông nghiệp, môi trường vùng cao.
Từ phía giáo viên, cần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học dự án, dạy học nghiên cứu (inquiry-based learning); phát triển các hoạt động giáo dục STEM, lồng ghép nội dung nghiên cứu khoa học vào bài học.
Đồng thời, chú trọng bồi dưỡng giáo viên về kỹ năng hướng dẫn đề tài và phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại. Trong quá trình này, giáo viên giữ vai trò định hướng, cố vấn, không làm thay học sinh; khơi gợi đam mê và hỗ trợ học sinh theo đuổi đề tài đến cùng.
Về chính sách giáo dục, cần có cơ chế hỗ trợ kinh phí cho các đề tài nghiên cứu của học sinh; ghi nhận, đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học trong học bạ và thi đua; đưa tiêu chí hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học trở thành một trong những tiêu chí đánh giá, xếp loại và khen thưởng giáo viên.
Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống phát hiện, bồi dưỡng, phát triển tài năng khoa học từ sớm; tăng cường kết nối giữa giáo dục phổ thông với đại học, viện nghiên cứu; đồng thời tổ chức các sân chơi khoa học có chiều sâu, tránh hình thức.
Cũng đưa giải pháp để hoạt động nghiên cứu khoa học đi vào chiều sâu và thực chất, thầy Trang Minh Thiên - giáo viên Trường THPT Nguyễn Việt Dũng (Cần Thơ), cho rằng cần xây dựng một hệ sinh thái đồng bộ. Theo đó, nhà trường tạo dựng môi trường học tập gắn với nghiên cứu thông qua việc thành lập các câu lạc bộ STEM, câu lạc bộ nghiên cứu khoa học; tổ chức các hoạt động trải nghiệm, dự án.
Đồng thời, phát triển không gian mở với các thiết bị như máy in 3D, bộ kit vi điều khiển, robot… để học sinh tự do thử nghiệm ý tưởng. Giáo viên phát huy vai trò người hướng dẫn - không nhất thiết phải là người biết tất cả, mà là người kết nối, gợi mở và đồng hành cùng học sinh trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Chính sách đãi ngộ, ưu tiên cụ thể đối với giáo viên hướng dẫn khi tham gia nghiên cứu khoa học; đồng thời tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên sâu về phương pháp luận nghiên cứu khoa học dành cho giáo viên phổ thông cũng là giải pháp thầy Trang Minh Thiên nhấn mạnh, nhằm giúp thầy cô tự tin hơn trong quá trình hướng dẫn học sinh.
“Giải pháp đúng không phải là bắt buộc mọi học sinh phải có một đề tài nghiên cứu. Làm như vậy dễ biến hoạt động này thành hình thức. Cách tiếp cận hiệu quả hơn là xây dựng lộ trình nhiều lớp, với nhiều đối tượng học sinh khác nhau”, cô Nguyễn Thị Thu Trang lưu ý.
Hiếu Nguyễn
7 giờ trước
42 phút trước
1 giờ trước
47 phút trước
57 phút trước
23 phút trước
28 phút trước
58 phút trước