🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Thôn Hoàng Giang - rạng danh đất học

13 giờ trước
Cổ Đôi xưa, nay là thôn Hoàng Giang, xã Trung Chính, tỉnh Thanh Hóa - một trong những vùng đất khoa bảng nổi tiếng xứ Thanh với nhiều vị tiến sĩ, chủ yếu trong thời kỳ Lê Trung Hưng.

Đền thờ ba đời tiến sĩ họ Lê - di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, ở thôn Hoằng Giang, xã Trung Chính.

“Vườn ký thi”

Xứ Thanh địa linh nhân kiệt cũng bởi từ xa xưa đến nay tinh thần hiếu học, đào tạo nhân tài và khuyến khích việc học hành, thi cử luôn được coi trọng. Cũng từ truyền thống ấy mà nhiều vùng đất học, đất khoa bảng đã ra đời và làm rạng danh quê hương. Dân gian vẫn lưu truyền câu “Thí Hoằng Hóa, khóa Đông Sơn”, “Ông nghè, ông cống Cổ Định, Cổ Đôi” không chỉ để liệt kê những vùng đất có truyền thống mà còn để nhắc nhở những người đi sau biết được sử làng.

Truyền thống ấy không phải bỗng dưng mà có, trải qua hàng trăm năm tích lũy, bồi đắp, cùng sự bền bỉ nỗ lực của mỗi cá nhân và sự hỗ trợ của cả cộng đồng. Để việc học hành trở thành một “thuần phong” tốt đẹp thì từ hương ước, lệ làng đã có những sự khuyến khích, động viên.

Các tài liệu cổ của làng Cổ Đôi còn lưu lại rằng, từ xưa làng đã thống nhất các điều lệ lập thành Hương ước như cung cấp tiền cho người đi thi, cấp khoản thưởng bằng tiền và hiện vật cho những ai đỗ đạt, người đỗ đạt được miễn lao dịch.

Đến thời Lê Trung Hưng, bản hương ước có quy định trước các khoa thi phải lập “Vườn ký thi” làm nơi học hành, ôn tập. “Vườn ký thi” rộng hơn 1 sào đất (500m2), được trai tráng lập thành nơi riêng để học hành, ôn tập ngay trước kỳ thi, có nhiều cây cao làm bóng mát. Trong vườn chia làm nhiều gian, mỗi gian là một sĩ tử. Trước khoa thi, các sĩ tử phải vào đây ở, tạm cách ly với gia đình nhằm tập trung toàn thời gian cho việc học hành.

Không chỉ có tập trung học, khi sĩ tử đi thi sẽ được làng cấp tiền bạc. Sách “Địa chí Nông Cống” đã từng chép về sự học ở làng Phu Huệ (nay thuộc thôn Hoàng Giang): “Bước vào làng Phu Huệ đã thấy một không khí học hành bao trùm. Các địa danh trong làng hầu như đều tập trung vào việc học hành như Cồn Nhất Tự, Cồn Bảng, Cồn Cờ, Cồn Trống, Cồn Chuông, Cồn Nghiên, Mũi Bút. Xa ngoài cánh đồng làng có Chòm Thất Tinh, Bãi Kim Quy, miếu Thần Đồng... Cứ đến khoa thi là tất cả trai tráng trong làng đều phải bỏ công sức, tiền của ra để làm nhà học tại “Vườn ký thi”. Với mỗi người tham gia thi Hương, sẽ được làng cấp tiền lệ phí. Nếu “nhất cử thành danh” sẽ được làng thưởng tiền 3 quan, rượu 1 vò để làm lễ cáo yết tổ tiên. Tính từ tú tài trở lên, đậu càng cao thì thưởng càng hậu. Nếu đỗ đại khoa được vinh quy bái tổ, thì làng sẽ đứng ra phục dịch và có lễ lạt cho đám khao vọng, lễ tổ tiên và yết tạ miếu Thần Đồng. Ngoài ra, những người đỗ đạt sẽ được hưởng nhiều phúc lợi và được trọng vọng khi tham gia việc làng và khi trong nhà có việc hiếu, việc hỉ...”.

Cũng chính vì coi trọng sự học, nên không ngạc nhiên khi đất Cổ Đôi xưa - thôn Hoàng Giang nay đã sinh ra nhiều vị tiến sĩ. Trong đó, họ Lê - một dòng họ khoa bảng nổi danh, được vua Lê Thần Tông ban câu đối thêu trên gấm: “Tiến sĩ ba đời lừng đất Việt/ Công hầu một họ ánh trời Nam”.

Đến làng khoa bảng

Nếu làng Bột (xã Hoằng Lộc) có 12 vị đỗ đại khoa, làng Nguyệt Viên (phường Nguyệt Viên) ghi danh 11 vị tiến sĩ thì làng Cổ Đôi cũng không hề kém cạnh khi cũng có tới 11 vị tiến sĩ.

11 người đỗ tiến sĩ thuộc 3 dòng họ. Trong đó có 3 người thuộc dòng họ Lê Sỹ. Các danh sĩ Bắc Hà có câu “Kinh Bắc Nguyễn Gia, Thanh Hoa Lê Xác”. Thanh Hoa là tên gọi cũ của Thanh Hóa, Lê Xác là Lê Chính Xác người đầu tiên đỗ đạt của dòng họ Lê Sỹ.

Lê Chính Xác thi đỗ tam trường, mở đầu cho khoa bảng của dòng họ. Là người thông minh, thông thiên văn, tường địa lý, ông được triều đình nhà Lê phong tặng “Kiệt tiết tuyên lực công thần”. Con cả của ông là Lê Sỹ Trạch (còn có tên là Lê Nghĩa Trạch) thi đỗ Đệ nhị giáp Đồng chế khoa xuất thân, khoa Ất Sửu (1565) đời Lê Anh Tông. Ông làm quan đến chức Lại bộ Tả thị lang, sau khi mất được tặng Thượng thư bộ Binh, Thái bảo, tước Nham Quận Công, gia phong “Kiệt tiết tuyên lực công thần”.

Ông Lê Khắc Vượng, Bí thư Chi bộ thôn Hoàng Giang, xã Trung Chính giới thiệu về danh bia tưởng niệm - nơi thờ các vị tiến sĩ và các anh hùng liệt sĩ của xóm Ngọc Tháp.

Cháu của Lê Sỹ Trạch là Lê Sỹ Triệt, năm 29 tuổi thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Thìn (1640), làm quan đến Tả thị lang bộ Hình, Bồi tụng, tước Quế Hải hầu. Sau khi ông nghỉ về hưu ở quê nhà, Vua đã ban cho ông một cây cờ gấm, ngự chế 6 câu đối và một bài thơ vinh quy.

Con trai Lê Sỹ Triệt là Lê Sỹ Cẩn đỗ tiến sĩ, khoa Canh Thân (1680), đời vua Lê Hy Tông. Ông phụng mệnh triều đình đi dẹp giặc ở nhiều nơi, được phong làm Tham tri Bộ binh và Thủy binh.

Một dòng họ 4 đời đỗ đạt, trong đó có 3 người đỗ tiến sĩ, có công với đất nước, hiển vinh khắp chốn, thật đáng tự hào.

Thôn Hoàng Giang ngày nay được sáp nhập từ thôn/làng Phu Huệ, Pháp Lĩnh, Cao Hậu, Ngọc Tháp cũ. Đến "Đền thờ ba đời tiến sĩ họ Lê”, ngay phía ngoài hiện còn tấm bia 4 mặt rất đẹp, từ hình dáng, đến hoa văn trên trán bia, diềm bia, chữ khắc... được dòng họ giữ gìn. Bia được lập tháng Mười năm Giáp Thân (tháng 11/1704). Nội dung văn bia ghi rõ lai lịch các đời của dòng họ, hành trạng của một số người đỗ đạt cũng như số ruộng dành cho việc thờ cúng của họ là 2 mẫu 5 sào.

Cùng với dòng họ Lê Sỹ, ở Hoàng Giang còn có họ Đỗ với người khai khoa là Đỗ Phi Tán (có tài liệu ghi là Đỗ Phi Tần), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn (1544), chức vụ Hàn Thái bảo Nông quân công; em trai là Đỗ Tất Đại, đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Dần (1554) đời Lê Trung Tông; chức vụ Đông Các đại học sĩ, tước Văn hoàng bá. Tiếp đến Đỗ Tế Mỹ (con trai Đỗ Tất Đại), đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Sửu (1565); chức vụ Thượng thư gia phong Thái bảo, Tước Quận công. Đây là trường hợp hiếm có dưới thời phong kiến - một gia đình liên tiếp 3 đời có người đỗ đại khoa.

Đứng trước danh bia do dòng họ Lê Chí và người dân xóm Ngọc Tháp lập, chúng tôi còn biết thêm thông tin về Tiến sĩ Lê Chí Đạo, sinh năm 1524, chức vụ Tham chính; Tiến sĩ Lê Thất Dục, sinh năm 1577, chức vụ Hàn lâm hiệu thảo; Tiến sĩ Lê Chí Tuân, sinh năm 1649, chức vụ Hiến sát sứ. Những dòng chữ khắc đơn sơ, nhưng cho thấy, sự học bao đời nay được tôn vinh và nhắc nhớ để các thế hệ con cháu trong làng lấy đó làm gương và noi theo.

Ngoài các vị tiến sĩ, trong làng còn có nhiều người đỗ Hương cống (dưới triều Lê Trung hưng), Cử nhân (dưới triều Nguyễn). Chẳng thế mà những câu ca như: “Bao giờ tre nứa hết cây/ Sông Hoàng hết nước/ Cổ Đôi hết người hiền”; “Ruộng sâu nuôi hạt lúa vàng/ Cổ Đôi nuôi chí vẻ vang khoa trường”; “võng lọng Cổ Định, Cổ Đôi”; “Ông nghè, ông cống Cổ Định, Cổ Đôi”... vẫn vọng vang đến hôm nay.

Bia đá, biển vàng vẫn còn ở đây, như giữ mạch nguồn của mảnh đất hiếu học. “Sự học cũng có nếp nhà” vì thế các dòng họ Lê Sỹ, Lê Hiểu, Lê Văn, Lê Chí... luôn gây dựng quỹ khuyến học để động viên con em học hành thành tài. Đặc biệt, hằng năm vào ngày mùng 8 tháng 3 âm lịch tất cả người làng đều tụ tập ở đền thờ ba đời tiến sĩ họ Lê, tổ chức dâng hương, ôn lại truyền thống khoa bảng cùng nét đẹp của làng quê Cổ Đôi xưa.

Về thôn Hoàng Giang, xã Trung Chính, nghe những câu chuyện về các vị tiến sĩ, ta mới hiểu vì sao mảnh đất này lại sinh ra nhiều bậc hiền tài đến thế. Gốc có sâu thì cành mới tốt, quá khứ có vững vàng thì tương lai mới nở hoa. Các bậc tiền nhân đã làm rạng danh nghìn năm đất học, để giờ đây hậu thế không chỉ tự hào, mà còn phải viết tiếp những chương mới trên hành trình hội nhập và phát triển.

Bài và ảnh: Kiều Huyền











Lộc biển
Báo Thừa Thiên Huế 42 phút trước





Home Icon VỀ TRANG CHỦ