🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Thoát 'bẫy gia công', nâng giá trị doanh nghiệp Việt

1 giờ trước
6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 10,8% so với cùng kỳ, mức cao nhất kể từ năm 2019. Khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp 33,07% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế. Dù vậy, tăng trưởng sản lượng chưa đồng nghĩa doanh nghiệp trong nước giữ lại được nhiều giá trị hơn. Theo Cục Thống kê, tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều ngành trọng điểm như điện tử, cơ khí chế tạo và ô tô chỉ phổ biến từ 15-25%. Trong các dây chuyền thiết bị đồng bộ, tỷ lệ nội địa hóa vẫn dưới 20%, chủ yếu tập trung vào kết cấu thép, chế tạo chi tiết đơn lẻ hoặc xây lắp.

Doanh nghiệp Việt trước cơ hội bứt phá công nghệ

Làn sóng tái cấu trúc chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu đang mở ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận ...

Doanh nghiệp Việt buộc phải bước vào "cuộc chơi" công nghệ khi bước ra toàn cầu

Sự kiện một doanh nghiệp nông nghiệp quy mô lớn như C.P. Việt Nam hợp tác với tập đoàn công nghệ hàng đầu FPT để ...

Đổi mới công nghệ: Doanh nghiệp Việt chuyển từ tư duy sở hữu sang tối ưu nguồn lực

Đổi mới công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình chuyển đổi số, chuyển ...

Sản lượng tăng, giá trị gia tăng còn thấp

Thực trạng này phản ánh vị trí còn thấp của doanh nghiệp Việt trong chuỗi giá trị. Mô hình “đường cong nụ cười” cho thấy giá trị gia tăng cao nhất nằm ở nghiên cứu và phát triển, thiết kế, xây dựng thương hiệu và phân phối; trong khi sản xuất, lắp ráp tạo ra giá trị thấp hơn. Phần lớn doanh nghiệp Việt vẫn tập trung ở những công đoạn có biên lợi nhuận thấp, phụ thuộc vào bản vẽ, tiêu chuẩn và đơn hàng của đối tác.

Tuy nhiên, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chi phối khoảng 92-93% giá trị xuất khẩu và 75% giá trị nhập khẩu. Doanh nghiệp nội địa đông về số lượng nhưng phần lớn ở vùng thấp của chuỗi giá trị, chưa hình thành được nhiều tổ hợp tư vấn, thiết kế, chế tạo đủ năng lực đảm nhận vai trò tổng thầu EPC trong các dự án lớn.

Ông Phan Đăng Phong, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí chỉ ra vòng luẩn quẩn đang cản trở sự trưởng thành của doanh nghiệp cơ khí: “Năng lực yếu vì thiếu cơ hội, thiếu cơ hội vì năng lực yếu”. Khi thiếu đơn hàng đủ lớn, doanh nghiệp không có môi trường thử thách, tích lũy kinh nghiệm và tái đầu tư cho nghiên cứu phát triển. Ngược lại, do chưa có năng lực được kiểm chứng, doanh nghiệp lại khó được giao các phần việc có giá trị cao.

Giai đoạn 2026 - 2035 đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ nội địa hóa ngành cơ khí chế tạo đạt 40% và đến năm 2035 đạt 50%

Từ nhận bản vẽ đến làm chủ sản phẩm

Thoát khỏi “bẫy gia công” đòi hỏi doanh nghiệp chuyển từ nhận bản vẽ để sản xuất sang tham gia sâu hơn vào thiết kế, phát triển sản phẩm và tích hợp hệ thống. Ông Phan Đăng Phong nhìn nhận, điểm nghẽn lớn của nhiều doanh nghiệp hiện nay nằm ở năng lực thiết kế tổng thể và tích hợp các dây chuyền thiết bị đồng bộ.

Trong nhiều dự án, đối tác nước ngoài vẫn nắm giữ công nghệ cốt lõi, thiết kế và phần mềm điều khiển, còn doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tham gia gia công kết cấu thép, chế tạo chi tiết hoặc lắp đặt. Ở lĩnh vực điện gió ngoài khơi, doanh nghiệp trong nước đã có thể đảm nhận một số hạng mục như chân đế, kết cấu thép và trạm biến áp, nhưng các khâu then chốt như tuabin, tích hợp hệ thống và quản trị vận hành vẫn phụ thuộc nhiều vào nhà cung cấp nước ngoài.

Bên cạnh hạn chế về thiết kế, vốn đầu tư cũng là trở ngại đáng kể. Ông Phạm Văn Khanh, Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Vinatech Việt Nam cho biết, để tham gia chuỗi cung ứng cấp 1 của các tập đoàn đa quốc gia, doanh nghiệp cần đầu tư thiết bị hiện đại, nâng cao năng lực thiết kế khuôn mẫu và nghiên cứu phát triển sản phẩm. Tuy nhiên, yêu cầu này cần nguồn vốn lớn, trong khi khả năng tích lũy của nhiều doanh nghiệp còn hạn chế, khiến nhu cầu tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn với chi phí phù hợp trở nên cấp thiết.

Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035 đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ nội địa hóa ngành cơ khí chế tạo đạt 40% và đến năm 2035 đạt 50%. Tuy nhiên, tỷ lệ nội địa hóa chỉ có ý nghĩa khi giá trị tạo ra trong nước được nâng lên thực chất. Sản xuất thêm chi tiết đơn giản sẽ không đủ để thay đổi vị thế ngành; doanh nghiệp cần tiến tới làm chủ cụm thiết bị, dây chuyền và hệ thống công nghiệp hoàn chỉnh.

Theo PGS-TS. Nguyễn Chỉ Sáng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam, cần tạo thị trường cho doanh nghiệp Việt trong các dự án đầu tư công và dự án chiến lược. Nếu đấu thầu chỉ chọn giá thấp mà không tính tỷ lệ nội địa hóa, chuyển giao công nghệ, chi phí vòng đời, năng lực bảo trì và khả năng hình thành chuỗi cung ứng trong nước, doanh nghiệp Việt sẽ khó trưởng thành.

Từ phía cơ quan quản lý, ông Phạm Tuấn Anh, Cục trưởng Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp (Bộ Công Thương), cho biết các chính sách của Luật Công nghiệp trọng điểm đã được Chính phủ thông qua về mặt chủ trương và đang được tiếp tục hoàn thiện để trình Quốc hội xem xét. Luật được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho việc phát triển các ngành công nghiệp nền tảng và công nghiệp hỗ trợ. Song song với đó, Bộ Công Thương đang phối hợp với Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu các giải pháp tín dụng phù hợp cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ có nhu cầu đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển.

Thái Hoàng

TIN LIÊN QUAN















Home Icon VỀ TRANG CHỦ