🔍
Chuyên mục: Tình yêu - Hôn nhân

Thơ của những thương buồn

2 giờ trước
Trong các cây bút người dân tộc thiểu số hiện nay, tôi thấy không nhiều người giữ được một tâm hồn bản địa thuần ròng như trường hợp nhà thơ Hữu Vi (Vi Văn Choồng) - người dân tộc Thái, tỉnh Nghệ An.
00:00
00:00

Ký họa chân dung nhà thơ Hữu Vi của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Không phải chỉ nhìn vào việc hiện anh sống và viết tại một bản người Thái rất xa thuộc miền Tây xứ Nghệ (huyện miền núi Con Cuông cũ), mà chủ yếu căn cứ vào những cái viết của anh: truyện ngắn, ký, báo chí, đặc biệt là thơ. Thơ là nơi chưng cất điệu hồn người trai bản, thi sĩ Hữu Vi.

Một cảm nhận đầu tiên khi bước vào thế giới thơ Hữu Vi chính là một nỗi thương buồn dìu dịu, lan tỏa, tưởng rất nhẹ mà thấm. Như sương sa, bảng lảng rồi đọng thành hạt. Hạt sương khi rỏ vào lòng người đọc đủ để rùng mình.

Đầu tiên là nỗi thương thân.

Trong vai một người trai bản, tâm hồn luôn ôm một nỗi khát yêu. Phải thôi. Lòng trai tuổi đôi mươi nào chẳng vậy. Nhưng trong trường hợp này, toàn thấy nỗi khát yêu không được đáp đền.

Nỗi khát ấy chỉ còn là mơ ước: Mơ tháng giêng mùa hoa nở/ Dắt tay em qua cầu bạc, cầu vàng (Anh sẽ về tháng Giêng hoa nở). Nỗi khát ấy mãi là tình đơn phương, đơn độc, tủi phận, kém may: Có ngôi nhà nơi triền đồi cao/ Đông lạnh cửa khép hờ đợi nắng/ Bốn chú trai đợi nàng nón trắng/ Người đà khăn xếp làm dâu... (Ngôi nhà nơi triền đồi cao). Trong vệt cảm xúc “thất tình”, bài thơ “Tàn lửa” là một đỉnh cao. Một khung cảnh bản làng miền núi. Chàng trai đốt đuốc kiên nhẫn ngồi dưới cầu thang chờ người mình yêu ra gặp. Nhưng người ấy đang vô tâm ngủ. Nhiều đêm như thế. Người trai vẫn cứ kiên nhẫn ngồi đợi suốt đêm. Trời sáng, đành phải về, người trai dụi đuốc vào bậc cửa, vào vạt cỏ, để lại một chút tàn tro như một vật chứng của tình yêu. Đáp lại, chỉ là sự im lặng tuyệt đối. Do người con gái ấy “vô tâm”, hay không thèm biết đến lòng người con trai ấy? Đã thế, trớ trêu thay, cái vật chứng mà chàng trai để lại như một thông điệp thống khổ cuối cùng của tình yêu cũng bị đàn chim núi nhặt hết, xóa hết: Sáng ra chim núi/ Nhặt hết tàn rơi/ Em tôi dậy muộn/ Lửa bay về trời. Một thực tại bị tẩy trắng. Tuyệt vọng và cay đắng. “Lửa bay về trời” là một cách nói thơ, ngậm đầy thi tính. Một hình ảnh lộng lẫy thương buồn. Tôi cho rằng “Tàn lửa” xứng đáng là một trong những bài thơ tình hay nhất của thơ Việt Nam đương đại.

Tiếp đến là nỗi thương người, mở lòng về phía người khác, phía tha nhân.

Nhà thơ Xuân Diệu từng ví tâm hồn thi sĩ tựa như một thứ ăng-ten bén nhạy thu bắt được những vùng sóng muôn nỗi của cuộc đời. Theo hình dung thế, tâm hồn nhà thơ Hữu Vi đặc biệt mẫn cảm với những phận người muôn nỗi. Đây là phận bạc của người thiếu phụ: Sang xuân em xuống cầu thang/ Đi về khoảng rừng vắng lặng/ Ven đường có đôi bướm trắng/ Tiễn hồn em lên Then... (Cầu thang). Nhìn một người con gái đang ngồi thêu váy, thi sĩ không hình dung đó có thể là một khung cảnh hạnh phúc, mà chỉ tưởng tượng theo hướng âu lo về một nỗi tàn phai: Làng bên có người chiều nay/ Theo sắc hoa vào hội/ Quên đường về// Qua xuân lá hoa còn tươi tắn/ Trên bàn tay thêu? (Em ngồi thêu váy). Âu cũng là cái cơ chế tâm hồn đặc biệt của người nghệ sĩ... Tương tự, nhưng lần này là một nỗi thương nhớ mẹ cha, quê hương nguồn cội trong một lần nhà thơ đang ở rất xa: Ngõ quê vắng quá/ Sao thương mẹ già...// Cha thời khuất núi/ Như cánh hoa tàn/ Mẹ thời tất tả/ Niềm lo vô vàn... (Tâm tình cùng hoa). Một tâm hồn luôn bén nhạy với những thương buồn như vậy, nên nhìn ra cảnh quan thiên nhiên hoa cỏ cũng thấy chạnh lòng: Ngày xuân ngỡ xa lắm rồi/ Tháng hai rắc buồn nẻo núi/ Cánh đào như chưa rụng vội/ Cuối cành níu lại thanh tân (Tháng Hai). Có người làm thơ rất thạo nói về cái khổ. Có người giỏi nói về cái phôi pha. Lại có người chỉ thích nói về cái vui, cái tươi trong... Hữu Vi dường như bị ám bởi những cái tủi phận thương mình, thương người, nỗi thương tràn ra cả ngoài khung cảnh. Thương buồn chính là điệu hồn thi sĩ Hữu Vi.

Không khó nhận ra trong thơ Hữu Vi một không gian núi rừng, bản làng thân thuộc người Thái mà thi sĩ thuộc về. Tôi còn thấy Hữu Vi rất hay nói về “cõi Then”, “về Then”, “lên Then” gắn liền với hồn, vía con người - một dấu chỉ tiêu biểu của văn hóa bản địa Thái. Ra giêng em về nhà chồng/ Tim anh bỗng có lửa đốt/ Ra suối tìm đám rêu cũ/ Tìm hòn cuội xưa/ Thấy dáng người trong làn nước/ Mà như xa tận cõi Then (Anh sẽ về tháng Giêng hoa nở) - lại một nỗi thương buồn của lòng trai yêu đương lận đận. Then, nghĩa là Trời, một thế giới ngàn trùng xa cách, một cõi tâm linh chở che linh hồn người đã khuất. “Lửa bay về trời” có phải là nơi cuối cùng dung nhận, an ủi lòng người trai cô độc...

Cần nói thêm, tâm hồn bản địa Hữu Vi không hề khép kín, mà luôn biết mở ra, bắt nhịp, sống cùng. Nhờ thế, thơ Hữu Vi tràn đầy thi liệu, hình ảnh nhân học tộc người mà lại mang nhịp thở của cuộc sống đương đại. Tháng hai ngực người thiếu phụ/ Đêm nằm phấp phỏng gió nam/ Thơm tho chi làn hương cũ/ Vách treo hờ hững váy chàm... (Tháng Hai). Chẳng phải đó là một cái nhìn căng tràn nhục cảm tính nữ hiện đại đó sao! Thêm nữa, Hữu Vi rất có ý thức lập tứ và triển khai tứ thơ, khiến mỗi bài thơ vừa kiệm lời vừa gợi nghĩa. Bài thơ “Tàn lửa” không hề cầu kỳ chữ, hình ảnh, giản dị toàn phần mà vẫn hiện đại, tươi mới.

Có một lần, gặp Hữu Vi, tôi bảo: “Sao cậu có cái tên Vi Văn Choồng cha sinh mẹ đẻ đặt cho hay thế không giữ làm bút danh mà lại Hữu Vi?”. Nhà thơ cười hiền, không nói gì. Có phải một niềm tự tín: Hữu Vi = Có Tôi, có tôi giữa cuộc đời này! Nếu thật như thế, kể cũng xứng đáng. Sáng tạo văn chương lạ lắm, có khi chỉ cần một bài thơ đã đủ định vị tác giả sinh ra nó trong trường văn trận bút không bến bờ này. Hữu Vi là một trường hợp như thế!

Nhân Dân hằng tháng trân trọng giới thiệu 2 bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Hữu Vi

Tàn lửa

Lập lòe đuốc lửa
Anh đi tìm em
Đi trọn một đêm
Đi tròn hai đêm
Lập lòe đuốc lửa.

Đèn không sáng cửa
Biết em ngủ rồi
Anh dụi tắt lửa
Quay về đi thôi

Biết là sẽ nhớ
Biết là càng thương
Gửi bên bậc cửa
Chút tàn đuốc vương

Biết là càng thương
Biết là sẽ nhớ
Gửi vào vạt cỏ
Chút tàn đuốc vương

Sáng ra, chim núi
Nhặt hết tàn rơi
Em tôi dậy muộn
Lửa bay về trời.

Minh họa | NGUYỄN MINH

Ngôi nhà nơi triền đồi cao

Có ngôi nhà nơi triền đồi cao
Mùa xuân cửa phập phồng gọi nắng
Một chú trai mong nàng nón trắng
Nàng đương theo hội tung còn.

Có ngôi nhà nơi triền đồi cao
Hạ về cửa bung hong nắng
Hai chú trai ngóng nàng nón trắng
Nàng còn lên núi trỉa nương.

Có ngôi nhà nơi triền đồi cao
Thu sang cửa mở toang đón nắng
Ba chú trai chờ nàng nón trắng
Nàng đương gặt lúa chưa về.

Có ngôi nhà nơi triền đồi cao
Đông lạnh cửa khép hờ đợi nắng
Bốn chú trai đợi nàng nón trắng
Người đà khăn xếp làm dâu...

Có ngôi nhà nơi triền đồi cao
Xuân sang cửa phập phồng gọi nắng...

VĂN GIÁ












Home Icon VỀ TRANG CHỦ