🔍
Chuyên mục: Giáo dục

Thi tốt nghiệp THPT: Làm gì để bịt lỗ hổng gian lận?

8 giờ trước
Kì thi tốt nghiệp THPT không chỉ đóng vai trò xét công nhận tốt nghiệp mà còn là công cụ quan trọng bậc nhất để các trường đại học (ĐH) sử dụng làm căn cứ xét tuyển đầu vào. Nhưng sau 11 năm tổ chức, kì thi đang bộc lộ những bất cập vì phần lớn các khâu tổ chức đều do con người thực hiện.
00:00
00:00

Hiệu ứng “con lắc” điểm 10

Trước hết, tính ổn định và độ phân hóa chuẩn xác của đề thi qua từng năm là yếu tố cốt lõi đảm bảo sự công bằng, là căn cứ để các trường ĐH sử dụng xét tuyển. Tuy nhiên, nhìn vào bức tranh thống kê số lượng điểm 10 của các môn thi trong hai năm 2025 và 2026 (2 năm tổ chức thi tốt nghiệp THPT theo chương trình giáo dục phổ thông mới), dư luận không khỏi giật mình trước những biến động cực đoan, để lộ nhiều lỗ hổng lớn trong công tác xây dựng ma trận và chuẩn hóa ngân hàng câu hỏi của Bộ GD&ĐT.

Số liệu thống kê cho thấy, biên độ dao động về số lượng điểm tuyệt đối (điểm 10) giữa năm 2025 và 2026 đang ở mức báo động khi các con số tăng - giảm hàng chục, thậm chí hàng trăm lần một cách khó hiểu.

Thí sinh thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: DUY PHẠM

Năm 2026, môn Toán có 4.208 điểm 10, tăng vọt so với con số 513 của năm 2025 (tăng 8,2 lần). Tương tự, môn Lịch sử tiếp tục mạch tăng từ 1.518 lên 2.465 điểm tuyệt đối (tăng 1,6 điểm). Môn tiếng Anh số lượng điểm 10 tăng 2,2 lần (từ 141 điểm 10 lên 311).

Ở chiều ngược lại, các môn Địa lí, Vật lí, Giáo dục Kinh tế và Pháp luật lại rơi vào trạng thái lao dốc không phanh. Điển hình là môn Địa lí, môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật rơi thẳng đứng. Môn Địa lí từ vị trí quán quân năm 2025 với 6.907 thí sinh xuống còn vỏn vẹn 56 thí sinh đạt điểm 10 năm 2026 (giảm hơn 123 lần). Môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật gây sốc nhất khi giảm tới 725 lần, từ 1.451 điểm 10 xuống còn 2 thí sinh đạt mức điểm này. Môn Vật lí cũng từ 3.929 điểm 10 tụt sâu xuống còn 189 điểm 10 (giảm 21 lần).

Sự trồi-sụt quá lớn chứng minh ban ra đề thi đang bị cuốn theo tâm lí "sửa sai" của năm trước một cách thụ động. Kì thi năm 2025 bị dư luận phản ứng vì tạo ra "cơn mưa điểm 10" ở môn Địa lí, Vật lí, Giáo dục Kinh tế và Pháp luật. Ngay lập tức, sang năm 2026, tổ ra đề của các môn này đã "siết" ma trận bằng cách tăng độ khó của đề. Hậu quả là từ dễ, đề thi quay ngoắt sang trạng thái khó (hiệu ứng con lắc), khiến từ “mưa điểm 10” sang “đếm trên đầu ngón tay (như môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật chỉ có 2 điểm 10). Câu hỏi đặt ra là Bộ GD&ĐT xây dựng ngân hàng đề thi chuẩn hóa quốc gia như thế nào mà có thể vận hành theo kiểu "thử và sai" hay mang tính may rủi theo năm như vậy?

Độ khó - dễ lệch pha nghiêm trọng giữa các môn thi đã gián tiếp phá vỡ sự công bằng trong xét tuyển ĐH với các tổ hợp khác nhau. Dù Bộ GD&ĐT có đưa ra bảng đối sánh các mức điểm tương đương giữa các tổ hợp (bách phân vị) nhưng rõ ràng, sự chênh lệch này khiến các trường ĐH tốp đầu rơi vào thế khó khi cân bằng chỉ tiêu giữa các tổ hợp xét tuyển.

Bảng số liệu điểm 10 giai đoạn 2025 - 2026 cho thấy quy trình thẩm định và chuẩn hóa độ phân hóa đề thi tốt nghiệp THPT vẫn chưa đạt tới độ chín và tính khoa học cần thiết. Đề thi vẫn mang nặng tính chủ quan của hội đồng ra đề từng năm thay vì dựa trên một thang đo năng lực chuẩn hóa quốc tế ổn định.

TS Phạm Ngọc Duy, một chuyên gia có bề dày kinh nghiệm làm việc tại các tổ chức khảo thí hàng đầu thế giới như Viện Giáo dục và Khảo thí Hoa Kỳ (ETS), ĐH Massachusetts Amherst (UMass) và hiện tại là New Meridian Corporation (Hoa Kỳ) phân tích mô hình Sireci (2017) - quy trình 20 bước tiêu chuẩn của GS Sireci - các bước xây dựng ngân hàng câu hỏi giúp đảm bảo độ tin cậy và giá trị cho bài thi ngay từ khâu thiết kế đề thi.

Đoàn công tác của Bộ GD&ĐT kiểm tra trước kì thi tốt nghiệp THPT năm 2026 tại Hà Nội. Ảnh: NGHIÊM HUÊ

TS Duy đã đưa ra ví dụ điển hình về "Bóng bầu dục Mỹ" để minh họa cho tính công bằng trong đề thi. Một câu hỏi đọc hiểu về bóng bầu dục có thể tạo lợi thế cho nhóm thí sinh da trắng hơn so với nhóm thí sinh bản địa hoặc châu Á, dù năng lực đọc hiểu của họ như nhau. Việc áp dụng kĩ thuật phân tích sự khác biệt (kĩ thuật DIF) giúp loại bỏ các yếu tố thiên lệch để đề thi công bằng hơn đối với các thí sinh bất kể vùng miền hay giới tính. Ngoài ra, TS Phạm Ngọc Duy cũng nhấn mạnh tới kĩ thuật cân bằng và thiết lập thang điểm chuẩn hóa. Thay vì sử dụng điểm thô vốn phụ thuộc vào độ khó dễ của từng mã đề, việc chuyển đổi sang điểm chuẩn hóa giúp kết quả thi có giá trị so sánh ngang bằng giữa các đợt thi khác nhau.

“Làm gì có chuyện nhanh, nhiều, bổ, tốt và rẻ. Đó là quy luật kinh tế và xã hội”. TS Quách Tuấn Ngọc

Không có chuyện nhanh, nhiều, tốt và rẻ

“Làm gì có chuyện nhanh, nhiều, bổ, tốt và rẻ. Đó là quy luật kinh tế và xã hội”. Nhận định thẳng thắn của TS Quách Tuấn Ngọc, nguyên Cục trưởng Công nghệ Thông tin, Bộ GD&ĐT về kì thi tốt nghiệp THPT "2 trong 1" sau khi vụ việc gian lận thi cử lớn nhất lịch sử khoa cử Việt Nam vỡ lở năm 2018.

Trước đây, áp lực dư luận về việc tổ chức hai kì thi tốt nghiệp THPT và 3 chung cho tuyển sinh ĐH chỉ một tháng gây tốn kém tiền bạc, công sức cho xã hội. Để giải quyết bài toán kinh tế này, giải pháp gộp hai kì thi làm một ("2 trong 1") đã được lựa chọn. Thành quả trước mắt là giảm được chi phí, nhưng cái giá phải trả về mặt chất lượng là không hề nhỏ.

Theo TS Quách Tuấn Ngọc, sai lầm cốt lõi nằm ở chỗ cơ quan quản lí đang cố tình đồng nhất hai kì thi vốn có tính chất hoàn toàn khác nhau. Khi kì thi được giao về cho các địa phương tổ chức, tính bảo mật và khách quan trở thành một dấu hỏi lớn.

Sự chênh lệch về chất lượng không phải bây giờ mới bộc lộ mà đã trở thành bản chất cố hữu. TS Quách Tuấn Ngọc cho rằng nếu Bộ GD&ĐT tiếp tục muốn giữ 2 mục tiêu lớn trong một kì thi và công tác tổ chức vẫn giao cho địa phương thì phải tăng cường giám sát phòng thi và hội đồng thi. Điều này cũng chỉ giảm được phần nào tiêu cực.

TS Lê Viết Khuyến cho hay, công tác đánh giá giữa các địa phương, các cơ sở giáo dục vẫn còn có sự khác biệt nhất định. Có nơi thực hiện rất nghiêm túc, nhưng cũng có nơi chịu tác động của bệnh thành tích, khiến chất lượng đánh giá chưa thực sự đồng đều. Điểm mấu chốt của vấn đề là phải hạn chế tối đa những điều kiện có thể dẫn đến tiêu cực. Khi một hệ thống còn phụ thuộc quá nhiều vào con người thì nguy cơ sai phạm vẫn luôn tồn tại.

Theo ông Khuyến, không thể chỉ trông chờ vào việc tăng thêm các đoàn thanh tra hay bổ sung thêm các quy định kiểm soát. Những giải pháp này vẫn cần thiết nhưng chủ yếu mang tính hỗ trợ, bởi ở bất cứ khâu nào còn phụ thuộc quá nhiều vào con người thì vẫn còn nguy cơ phát sinh tiêu cực.

Ông cũng cho rằng về lâu dài, giáo dục Việt Nam cần hướng tới xây dựng một mô hình khảo thí hiện đại, minh bạch và có khả năng tự kiểm soát. Nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng ngân hàng đề thi chuẩn hóa với số lượng câu hỏi rất lớn. Khi tổ chức thi, hệ thống sẽ lựa chọn câu hỏi theo thuật toán ngẫu nhiên, bảo đảm mỗi thí sinh có một bộ đề khác nhau nhưng vẫn tương đương về độ khó.

Cách làm này không chỉ hạn chế nguy cơ lộ đề mà còn giảm đáng kể khả năng can thiệp của con người vào quá trình tổ chức thi. Đây là hướng đi mà giáo dục Việt Nam cần từng bước nghiên cứu, triển khai nếu muốn xây dựng một hệ thống khảo thí hiện đại, khách quan và minh bạch.

Nghiêm Huê

TIN LIÊN QUAN




























Home Icon VỀ TRANG CHỦ