Theo chân 'thợ săn' don dưới lòng sông Trà Khúc

Khi mặt trời vừa nhô lên phía cửa Đại Cổ Lũy, đoạn cuối sông Trà Khúc đã rộn ràng tiếng ghe máy. Hàng chục chiếc ghe nhỏ neo rải rác trên vùng nước lợ, chở theo những người làm nghề cào don chuẩn bị bước vào một buổi lao động mới.

Chờ nước rút vừa đủ, họ lần lượt rời ghe, ngâm mình dưới dòng sông. Trên tay mỗi người là một chiếc cào làm bằng tre. Từng bước chân lùi chậm rãi, chiếc cào được kéo sát lớp cát dưới đáy sông để tìm những con don vùi sâu bên dưới.

Nhìn qua tưởng như đơn giản, nhưng nghề cào don đòi hỏi cả sức bền lẫn kinh nghiệm. Người làm nghề phải vừa kéo cào vừa cảm nhận lực truyền qua cán tre để biết mẻ cào có "trúng" hay không. Khi chiếc cào nặng tay, họ nhấc lên, sàng bớt cát, đổ don vào rổ, đãi sơ bằng nước sông rồi chuyển lên ghe.

Theo ông Nguyễn Lực, dụng cụ cào nặng hơn 10 kg, gồm cán tre dài khoảng 2,5 m và thùng cào dài khoảng một mét. Chiếc cào được nối với dây đeo ngang hông để người làm nghề lấy lực. Một tay giữ cán cào, tay còn lại tỳ vào thắt lưng, họ vừa đi giật lùi vừa kéo liên tục suốt nhiều giờ.

Mỗi buổi cào kéo dài từ 4 đến 6 tiếng. Khi nước rút, người dân xuống sông làm việc; đến lúc thủy triều dâng, mọi người thu dọn dụng cụ, đưa don lên ghe rồi trở vào bờ.



Theo ông Lực, nghề cào don phụ thuộc hoàn toàn vào con nước. Chỉ khi nước xuống mới có thể làm nghề. Có hôm gặp đúng luồng don thì thu được khá, nhưng cũng có những buổi ngâm mình nhiều giờ dưới nước mà thành quả chẳng được bao nhiêu.

Theo ông Nguyễn Văn Lô (50 tuổi, xã An Phú), nghề cào don đã gắn bó với cư dân ven sông Trà Khúc từ rất lâu đời. Sau mỗi mùa lũ, khi nước sông rút, người dân lại xuống sông kiếm kế sinh nhai; đến mùa mưa, nước dâng cao thì tạm ngưng. Vì vậy, một năm người dân chỉ làm nghề khoảng 8 tháng.

Ông Lô cho biết, don chỉ sinh sống ở vùng nước lợ, vùi mình trong lớp cát và hấp thụ nguồn phù sa từ thượng nguồn đổ về. Chính môi trường ấy tạo nên vị ngọt thanh đặc trưng, làm nên hương vị riêng của don Quảng Ngãi.

Hiện nay, tại xã An Phú và xã Tịnh Khê vẫn còn hàng chục hộ dân gắn bó với nghề cào don. Từ lúc bình minh vừa ló dạng, họ mang theo cơm nước xuống sông và chỉ trở về khi con nước đổi chiều.



Trung bình mỗi ngày, một người cào được khoảng một bao don, tương đương trên dưới 20 kg. Don không bán theo kilogram mà tính bằng rổ (cạu), mỗi rổ có giá khoảng 60.000 đồng. Sau khi đưa vào bờ, don được thương lái thu mua hoặc chuyển đến các quán don nổi tiếng trong vùng.

Theo ông Lô, so với nhiều nghề mưu sinh trên sông nước, cào don mang lại thu nhập khá hơn, nhất là vào dịp Tết khi nhu cầu tiêu thụ tăng cao. Tuy nhiên, công việc luôn tiềm ẩn không ít rủi ro bởi người làm nghề phải thường xuyên ngâm mình dưới nước và mọi hoạt động đều phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên.

Don là loài nhuyễn thể có hai mảnh vỏ dẹt, dài khoảng 1 cm, cùng họ với hến nhưng có phần ruột dài và thịt thơm ngon hơn. Chúng sống sâu trong lớp cát vùng nước lợ nên có màu vàng đặc trưng.

Sau khi được chà sạch, don được ngâm cho nhả cát rồi luộc đến khi há miệng....

Phần thịt được tách khỏi vỏ để chế biến thành nhiều món như don nước, cháo don hay don xào.

Từ loài nhuyễn thể nhỏ bé ấy, người Quảng Ngãi đã tạo nên một món ăn mang đậm hương vị quê nhà. Vị ngọt thanh của don hòa cùng bánh tráng và chút ớt cay đã trở thành ký ức quen thuộc của nhiều người con xứ Quảng.

Những năm gần đây, điều khiến người làm nghề trăn trở là nguồn don ngày càng ít dần. Họ mong dòng sông luôn được giữ gìn trong lành để loài nhuyễn thể này tiếp tục sinh sôi, qua đó gìn giữ một nghề mưu sinh lâu đời và món đặc sản đã trở thành nét riêng của Quảng Ngãi.
Di Linh
18 giờ trước
23 giờ trước
33 phút trước
6 giờ trước
9 giờ trước
7 giờ trước
11 giờ trước
13 giờ trước
15 giờ trước
15 giờ trước
16 giờ trước
17 giờ trước