🔍
Chuyên mục: Tài chính

Thay đổi tư duy huy động nguồn lực để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số

1 ngày trước
Phát triển thị trường vốn được xác định là trụ cột quan trọng để huy động nguồn lực trung và dài hạn phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, nếu chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng sẽ gây rủi ro cho toàn hệ thống, đã đến lúc cần thay đổi tư duy huy động nguồn lực.

Cấu trúc tài chính đang bị mất cân đối

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, cấu trúc tài chính của Việt Nam đang bị mất cân bằng, điều đó được thể hiện qua việc tỷ lệ dư nợ tín dụng trên GDP đã đạt trên ngưỡng 135% - đây là mức cao hơn nhiều so với các quốc gia khu vực Đông Nam Á, trong khi đó tại Mỹ, tỷ lệ dư nợ tín dụng ngân hàng trên GDP chỉ khoảng 80%.

TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng cho rằng, từ 1991 đến nay, tín dụng đóng góp khoảng một nửa tổng nguồn cung vốn phục vụ nhu cầu tăng trưởng, hiện cơ cấu cung ứng vốn của Việt Nam vẫn đang lệch mạnh về phía tín dụng ngân hàng.

“Bình quân 9 tháng năm 2025, hệ thống ngân hàng cung ứng khoảng 50%-52% tổng vốn cho nền kinh tế, có thời điểm lên đến 57%. Trong khi đó, thị trường cổ phiếu mỗi năm chỉ huy động khoảng 100.000-150.000 tỷ đồng, tương đương mức huy động vốn của một ngân hàng thương mại cỡ trung; thị trường cổ phiếu đóng góp khoảng 11%-12% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, thị trường trái phiếu doanh nghiệp và đầu tư công khoảng 15%-16%, FDI cũng ở mức tương đương như các thị trường, còn vốn bổ sung từ khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước cũng chỉ 3%–4%. Sự lệch pha này khiến gánh nặng cung ứng vốn trung - dài hạn dồn lên hệ thống ngân hàng. Một khi tín dụng lấn át thị trường vốn thì không thể xem nhẹ rủi ro”, ông Lực nhấn mạnh.

Phát triển thị trường vốn hiệu quả, giúp huy động nguồn lực trung và dài hạn

Đồng quan điểm, ông Phạm Xuân Hòe, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước) chia sẻ, trong quá khứ đã có các cuộc khủng hoảng do rủi ro hệ thống gắn với sự phụ thuộc quá mức vào tín dụng ngân hàng, có thể kể đến như giai đoạn 1988-1989 là thời điểm nợ xấu rất cao, khi gần 100 Quỹ tín dụng nhân dân bị “đổ vỡ” chỉ sau 2 năm thành lập (nguyên nhân chính là do sự kiểm tra, giám sát không sát sao, kém hiệu lực, hiệu quả đối với hoạt động cho vay và trả nợ); giai đoạn 2011-2015 chứng kiến sự tăng trưởng tín dụng nóng và nợ xấu tăng cao (tín dụng tăng 33%, nợ xấu lên tới 17,21%). Gần đây nhất là sự cố Ngân hàng SCB (năm 2022) cũng xuất phát từ mất cân đối thanh khoản.

“Hiện dư nợ tín dụng cho bất động sản đã tăng 26,42%, tương đương trên 4 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 24% tổng dư nợ toàn hệ thống. Đáng chú ý, có những ngân hàng có tỷ lệ cho vay bất động sản lên tới 50% làm gia tăng nguy cơ hình thành bong bóng tài sản nếu dòng vốn tiếp tục đổ mạnh vào lĩnh vực này. Tăng trưởng tín dụng nóng, vượt xa khả năng huy động vốn sẽ dẫn tới bất ổn nghiêm trọng như đã từng xảy ra khi lãi suất liên ngân hàng tăng vọt lên 40% và trên 50 nghìn doanh nghiệp thua lỗ, phá sản trong năm 2011”, ông Hòe cảnh báo.

Các nghiên cứu quốc tế đã khuyến nghị, ngưỡng tín dụng tối ưu trên GDP đối với các nước ASEAN chỉ nên là khoảng 96,5% GDP, còn đối với các nền kinh tế đang phát triển có thể là khoảng 80%-120% GDP. Khi vượt ngưỡng, tác động tích cực của tín dụng đối với tăng trưởng sẽ giảm dần, thậm chí gây rủi ro nếu đi kèm lạm phát cao.

Cần tư duy mới, giải pháp mới và cách làm mới

Hiện quy mô thị trường tài chính Việt Nam tương đương khoảng 300% GDP (bao gồm tổng tài sản ngân hàng, vốn hóa thị trường cổ phiếu, quy mô thị trường trái phiếu và doanh thu phí bảo hiểm), điều này có nghĩa là nếu xảy ra bất kỳ cú sốc nào, có thể gây ra những khủng hoảng, tác động lớn đến nền kinh tế.

TS Cấn Văn Lực cho rằng, đã đến lúc Việt Nam buộc phải thay đổi tư duy huy động nguồn lực, giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và phát triển mạnh các kênh huy động vốn khác.

“Trọng tâm là phát triển thị trường vốn một cách cân bằng, đặc biệt là nguồn vốn trung, dài hạn cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, đầu tư mạo hiểm, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số – những lĩnh vực mà ngân hàng khó đáp ứng đầy đủ. Bên cạnh đó, cần đẩy nhanh nâng hạng thị trường chứng khoán, phấn đấu đạt chuẩn MSCI (hệ thống phân loại và chỉ số chứng khoán toàn cầu, yêu cầu các cổ phiếu đáp ứng tiêu chí khắt khe về vốn hóa, thanh khoản) trước năm 2030. Sớm hình thành trung tâm tài chính quốc tế tại TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Khơi thông các nguồn lực đang đóng băng tại những dự án kéo dài, tồn đọng”, ông Lực nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP Hồ Chí Minh (HUBA) cho rằng, cần sớm phát huy vai trò của Trung tâm Tài chính Quốc tế như một kênh dẫn vốn dài hạn, có thể huy động các nguồn vốn kỳ hạn từ 5 năm đến 20 năm, tham gia mua bán lại các khoản nợ, qua đó giúp giải phóng gánh nặng dòng vốn cho hệ thống ngân hàng.

“Khi Trung tâm Tài chính Quốc tế hoạt động hiệu quả, chắc chắn có thể đạt được đồng thời ba mục tiêu, đó là: Dòng vốn được phân bổ đúng bản chất tức là vốn dài hạn đi qua thị trường vốn, vốn ngắn hạn đi qua hệ thống ngân hàng; ngân hàng sẽ có điều kiện tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; giảm rủi ro lạm phát do giảm áp lực tăng tín dụng ngắn hạn”, ông Hòa nói.

Sớm phát huy vai trò của Trung tâm Tài chính Quốc tế như một kênh dẫn vốn dài hạn

Trong năm 2025, thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng - từ “thị trường cận biên” lên “thị trường mới nổi thứ cấp”, cùng với đó là việc hình thành hành lang pháp lý cho tài sản số và khung thể chế cho trung tâm tài chính quốc tế - là ba dấu mốc nền tảng, mở ra cơ hội để thị trường vốn khẳng định vai trò trụ cột dẫn dắt dòng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. TS Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) cho rằng, để chuyển hóa ba nền tảng này thành động lực thực chất, cần tư duy mới, giải pháp mới và cách làm mới.

“Tư duy mới ở đây chính là học hỏi kinh nghiệm thành công của các trung tâm tài chính quốc tế khác, sử dụng cơ chế vượt trội, dám chấp nhận rủi ro, thị trường vốn Việt Nam không chỉ cạnh tranh trong phạm vi ASEAN, mà cạnh tranh sòng phẳng với các trung tâm tài chính quốc tế của các thị trường tài chính lớn như Hoa Kỳ, Anh, UAE, Trung Quốc.

Giải pháp mới là không dập khuôn mô hình cũ, mà phải sáng tạo những công cụ tài chính “made in Vietnam” như trái phiếu xanh gắn với tín chỉ carbon, tài sản số hóa, token hóa chứng khoán, công cụ tài chính dựa trên blockchain…, thu hút các Quỹ đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ ESG, quỹ xanh ... bảo đảm sự ổn định và hấp dẫn của các kênh đầu tư. Cách làm mới là: Thực hiện ngay phân cấp, phân quyền đúng chuẩn quốc tế, việc này chúng ta đã chờ quá lâu rồi”, ông Nghĩa nêu quan điểm.

Phát triển thị trường vốn hiệu quả sẽ giảm gánh nặng cung ứng vốn cho ngân hàng, đồng thời huy động được các nguồn lực trung và dài hạn bền vững, bởi một nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào tăng trưởng tín dụng sẽ tạo ra những bất cập lớn, làm gia tăng rủi ro thanh khoản và nợ xấu.

Lê Thanh-CTV Phượng Ngọc/VOV.VN

TIN LIÊN QUAN

























Home Icon VỀ TRANG CHỦ