Thân thương một bóng cổng làng
Không chỉ lưu giữ tinh hoa kiến trúc và văn hóa truyền thống, những cổng làng xưa còn mang nhiều thông điệp sâu sắc, thể hiện tâm hồn, tình cảm, cốt cách của cộng đồng người dân sinh sống trong mỗi khoảnh tre.
Cổng xưa... kể chuyện
Chúng tôi ghé thăm làng Văn Trung (xã Tân Chi) trong một chiều hè, từ xa đã thấy bóng cây đề cổ thụ phủ kín vòm cổng gạch cũ. Những chùm rễ tua tủa ôm lấy thân cổng như bàn tay thời gian níu giữ một miền ký ức.
Người dân kể rằng, cổng làng Văn Trung từng là một phần bối cảnh trong bộ phim nổi tiếng "Làng Vũ Đại ngày ấy" của đạo diễn Phạm Văn Khoa.

Cổng làng Văn Trung (xã Tân Chi) lưu giữ nét xưa.
Cụ Cao Hồng, nay đã ngoài 90 tuổi, sống ngay cạnh cổng làng chậm rãi kể: "Ngày xưa trên cổng có chòi canh, treo mõ gỗ để báo hiệu cho dân làng. Lúc tôi lên 9-10 tuổi, cây đề vẫn nhỏ, mới nhú lên từ kẽ gạch. Sau này chòi canh bị phá, thân cây bị chặt nhưng bộ rễ vẫn bám chặt vào tường gạch rồi lớn dần lên thành cây đề sum suê như hôm nay. Người già trong làng vẫn nhớ rành rọt tuổi thơ từng ngồi dưới bóng cổng, nhìn đoàn xe Pháp chạy qua cầu Trầm, chở vật liệu xây boong-ke. Bao thế hệ đã lớn lên từ cổng làng ấy, đi xa rồi lại trở về dưới bóng cây đề quen thuộc".
Người xưa quan niệm: "Nhà có nóc, làng có cổng". Bởi vậy, dù giàu hay nghèo, mỗi làng đều cố gắng dựng cổng vững chãi như một cách khẳng định vị thế, truyền thống và bản sắc của làng mình. Nhiều người tâm sự, mỗi lần đi qua chiếc cổng rêu phong cổ kính của làng Thổ Hà (phường Vân Hà) cảm giác như đang bước qua cánh cửa thời gian để trở về với một miền quê xưa.
Cổng không có cửa đóng kín mà rộng mở như vòng tay của những người dân quê chân chất sẵn sàng đón bạn bè, khách phương xa. Trên cổng còn có đôi câu đối bằng chữ Hán mà người xưa gửi gắm bao tâm ý: "Môn đại vinh khai nghênh khách chí / Lầu cao hỉ kiến viễn bằng lai" (tạm dịch là "Cổng lớn luôn rộng mở đón chào khách đến/ Lầu cao vui mừng thấy bạn đến từ xa"), thể hiện tinh thần hiếu khách, trọng nghĩa tình của người dân nơi đây.
Các bậc cao niên kể rằng, cổng làng Thổ Hà được xây dựng từ năm 1692. Mặt trước cổng khắc ba chữ Hán "Thổ chi tân", tạm dịch là làng Thổ Hà ven bến sông, mang ý nghĩa vùng đất thiêng bền đẹp. Mặt sau đề ba chữ "Hà nguyên hậu", nghĩa là nguồn nước vô tận, hàm ý phúc lộc trời ban sẽ còn mãi với dân làng.
Trải qua hơn ba thế kỷ cùng mưa nắng và những biến động của thời gian, cổng làng Thổ Hà vẫn uy nghi, sừng sững. Cổng làng lưu dấu nếp đất, nếp người, nếp ăn nếp ở đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Bước qua cổng làng là cụm di tích đình, đền, chùa, từ chỉ cùng những ngôi nhà cổ hàng trăm năm tuổi nằm sâu trong những ngõ nhỏ hun hút; là lễ hội truyền thống và miên man chuyện kể về nghề làm bánh đa nem, nghề làm gốm từng vang danh khắp vùng Kinh Bắc.
Nét quê trong phố
Lần nào bước qua vòm cổng cổ của làng Diềm (tổ dân phố Viêm Xá, phường Kinh Bắc), chúng tôi cũng cảm nhận được sự bình yên và ấm áp. Trong những buổi chiều hè ngồi hóng mát bên cổng làng, Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Thị Bàn, ngoài 90 tuổi vẫn thường kể: "Không biết cổng làng được xây dựng từ bao giờ, nhưng nghe các cụ truyền lại rằng cổng xuất hiện sau khi đình làng được dựng lên. Người dân chúng tôi ai cũng tự hào vì qua hàng trăm năm, cổng làng vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn, giữ được vẻ đẹp uy nghiêm vốn có".
Chạm vào cổng làng là chạm vào một thế giới thiêng liêng và thân thiết. Bên trong cổng làng là cộng đồng, gia tộc, là tình làng nghĩa xóm, là nền nếp phong tục, tập quán quê hương. Bên ngoài cổng làng là chân trời mơ ước, là khát vọng nâng bước đi xa.
Được xây bằng gạch vồ với kết cấu hai tầng có mái lợp, cổng làng Diềm mang dáng vẻ bề thế nhưng không phô trương. Phía trên cổng nổi bật hình cuốn thư khắc bốn chữ Hán "Vãng du hữu lợi", nghĩa là "qua làng là có lợi". Không chỉ là lời chúc tốt lành dành cho khách phương xa, bốn chữ ấy còn như một lời mời gọi chân thành, thể hiện cốt cách trọng nghĩa tình, hiếu khách của người dân đất Thủy tổ Quan họ.
Có lẽ bởi ý nghĩa đặc biệt ấy mà hình ảnh cổng làng Diềm nhiều lần được lựa chọn để tái hiện tại các sự kiện văn hóa, du lịch lớn, trở thành một dấu ấn nhận diện của vùng đất Kinh Bắc. Du khách thập phương, nhất là khách du lịch quốc tế mỗi lần về làng Diềm đều tìm đến cổng làng chụp ảnh, trầm trồ khen ngợi.
Chúng tôi về Trang Liệt (phường Đồng Nguyên) - nơi khởi nguồn phong trào xây dựng làng văn hóa đầu tiên của cả nước. Giữa những con phố tấp nập người xe, những tuyến đường mở rộng trải nhựa phẳng lì, nơi đây vẫn giữ được ba cổng làng xưa.
Tự hào truyền thống văn hóa của quê hương, ông Phan Đình Giang, Bí thư Chi bộ, Tổ trưởng tổ dân phố Trang Liệt cho biết: "Xưa, làng tôi có bốn cổng ở bốn phía của làng. Mỗi cổng có câu chuyện riêng được dân làng gọi là cổng Lé, cổng Tây, cổng Bông và cổng Đá. Hiện nay, ba trong số bốn cổng xưa vẫn còn khá nguyên vẹn (đã được tu bổ), riêng cổng Lé còn gọi là cổng Tiền xây dựng năm 1925 có kiến trúc đẹp nhất bị phá dỡ từ những năm cải cách ruộng đất để mở lối cho xe chở thóc của hợp tác xã".
Mỗi cổng làng Trang Liệt có ghi dòng chữ khác nhau, như cổng Bông với 4 chữ "Xuất nhập tương hữu" nghĩa là "ra vào đều là bạn" thể hiện cho sự hiếu khách, hướng ngoại của người dân kẻ Sặt từ xưa đến nay. Cổng Tây có 3 chữ "Xử chư dự" nghĩa là "lấy mọi tiếng khen" cho thấy vẻ đẹp của cổng và những mỹ tục của làng. Cổng Đá đề 4 chữ "Tiểu vãng đại lai", nghĩa là "đi ít về nhiều" do trước đây người dân trong làng có nghề thu gom đồng nát, khi đi thì không có gì nhưng lúc trở về thường mang theo đủ loại hàng hóa. Với người làng Trang Liệt, cổng làng chính là nhân chứng lịch sử kể cho hậu thế những câu chuyện xưa của cha ông.
Mỗi cổng làng mang một dáng vẻ, một câu chuyện riêng nhưng đều lưu giữ ký ức cộng đồng, phản chiếu nếp sống, phong tục và bản sắc văn hóa làng quê. Những năm qua, nhiều làng xã ở Bắc Ninh đã quan tâm phục dựng, xây mới cổng làng. Bên cạnh những công trình được đầu tư bài bản, vẫn còn những nơi xây dựng theo hướng phô trương hoặc quá đơn giản, làm giảm giá trị văn hóa vốn có của cổng làng.
Theo nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian Nguyễn Quang Khải, cổng làng là "bộ mặt" của làng quê, vì thế việc xây dựng hay phục dựng phải hài hòa với không gian văn hóa truyền thống, bảo đảm sự bền vững, trang nghiêm và mang đậm bản sắc địa phương. Cùng với cây đa, bến nước, sân đình, việc tái thiết, xây dựng cổng làng là cần thiết, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa, nhất là trong bối cảnh Bắc Ninh đang phấn đấu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
Chạm vào cổng làng là chạm vào một thế giới thiêng liêng và thân thiết. Bên trong cổng làng là cộng đồng, gia tộc, là tình làng nghĩa xóm, là nền nếp phong tục, tập quán quê hương. Bên ngoài cổng làng là chân trời mơ ước, là khát vọng nâng bước đi xa. Nơi ấy như có dáng đứng của cha, có vòng tay của mẹ, cũng là nơi gợi cho mỗi chúng ta hoài niệm quê hương, như lời ca khúc "Trống hội cổng làng" của nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo: "Cổng làng neo ở giữa, trong ngoài là thế gian".
Ghi chép của Thanh Lâm
2 giờ trước
18 phút trước
26 phút trước
15 phút trước
5 phút trước
10 phút trước
12 phút trước
20 phút trước
37 phút trước
37 phút trước
49 phút trước
53 phút trước