🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Tạo chuyển biến quan trọng trong khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh

2 giờ trước
Sau 15 năm triển khai Chương trình hành động quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh giai đoạn 2010-2025 (gọi tắt là Chương trình 504), bức tranh tổng thể cho thấy những chuyển biến rõ rệt. Theo số liệu tổng kết, giai đoạn 2010-2025, cả nước đã thực hiện hàng nghìn dự án khảo sát, rà phá, làm sạch khoảng 530 nghìn héc-ta, huy động nguồn lực lớn từ ngân sách và viện trợ quốc tế, góp phần trả lại mặt bằng an toàn cho nhiều khu vực dân cư, sản xuất, hạ tầng. Nhưng đi cùng kết quả là thách thức không nhỏ: Diện tích còn ô nhiễm và nghi ngờ ô nhiễm bom mìn vẫn ở mức hàng triệu héc-ta, phân bố phức tạp, nhiều nơi trùng với địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, miền Trung, Tây Nguyên... Nói cách khác, Chương trình 504 đã tạo 'đà' quan trọng, song chưa thể khép lại 'cuộc chiến thời bình' dưới lòng đất.

Đội rà phá vật cản, Lữ đoàn 543 thực hiện rà phá bom mìn tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TTXVN

15 năm bền bỉ khắc phục hậu quả bom mìn

Bom mìn còn sót lại sau chiến tranh là “kẻ thù vô hình”: Không phân biệt ngày đêm, không chừa người già hay trẻ nhỏ, không dừng lại trước nhu cầu làm ăn, mở đường, dựng nhà. Tác hại của bom mìn vì thế không chỉ đo bằng thương vong, mà còn đo bằng những “cơ hội bị chôn vùi”: Đất không thể canh tác, dự án không thể triển khai, tuyến giao thông không thể mở rộng, khu dân cư không thể quy hoạch. Đây là một loại “chi phí phát triển” kéo dài, âm thầm nhưng nặng nề.

Từ nhận thức đó, năm 2010, Chính phủ phê duyệt Chương trình 504 với định hướng xuyên suốt: Huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, kết hợp nguồn lực trong nước và quốc tế, tổ chức khắc phục hậu quả bom mìn theo lộ trình, gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội và chăm lo nạn nhân. Điểm đáng chú ý của Chương trình 504 là đặt ra hai nhiệm vụ song hành: Xử lý “phần đất” bằng điều tra, khảo sát, lập bản đồ và rà phá; xử lý “phần người” bằng tuyên truyền phòng tránh và hỗ trợ nạn nhân.

Nhìn lại 15 năm, kết quả quan trọng đầu tiên là hình thành nền tảng quản trị và dữ liệu. Nếu trước đây, nhiều nơi triển khai theo “điểm nóng”, phụ thuộc dự án đơn lẻ, thì sau khi chương trình vận hành, hoạt động điều tra, khảo sát, lập bản đồ được coi là khâu “mở khóa”. Việc công bố bản đồ nghi ngờ ô nhiễm bom mìn trên phạm vi toàn quốc (được thực hiện và công bố trong quá trình triển khai chương trình) đã giúp các bộ, ngành, địa phương có cơ sở ưu tiên, tính toán chi phí, thiết kế dự án phát triển an toàn hơn. Với đặc thù bom mìn phân tán, phức tạp và đòi hỏi chuẩn kỹ thuật cao, dữ liệu không chỉ là công cụ quản lý, mà còn là “kỷ luật” tránh dàn trải, chồng chéo.

Kết quả quan trọng thứ hai là quy mô rà phá ngày càng mở rộng. Báo cáo tổng kết giai đoạn 2010-2025 cho biết, cả nước đã triển khai hàng nghìn dự án, làm sạch khoảng 530 nghìn héc-ta. Con số này phản ánh nỗ lực rất lớn của các lực lượng chuyên trách, nhất là lực lượng công binh và các đơn vị được giao nhiệm vụ rà phá, trong điều kiện địa hình phức tạp, thời tiết khắc nghiệt, yêu cầu an toàn tuyệt đối và chi phí cao.

Kết quả quan trọng thứ ba là nguồn lực được huy động ở quy mô lớn hơn, đa dạng hơn. Bên cạnh ngân sách Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, hợp tác quốc tế, viện trợ và hỗ trợ kỹ thuật đã góp phần bổ sung đáng kể cho các dự án rà phá, giáo dục phòng tránh tai nạn, hỗ trợ nạn nhân, xây dựng năng lực và tiêu chuẩn.

Kết quả quan trọng thứ tư và cũng là thước đo nhân văn của chương trình nằm ở giảm thiểu rủi ro, chăm lo nạn nhân. Giáo dục phòng tránh tai nạn được triển khai theo hướng sát cộng đồng; nhiều mô hình truyền thông rủi ro được duy trì dài hạn, nhất là ở địa bàn có mật độ ô nhiễm cao. Cùng với đó, chính sách trợ giúp xã hội và các dự án hỗ trợ sinh kế, phục hồi chức năng góp phần giúp nạn nhân bom mìn từng bước ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng. Ở góc độ chính sách, đây là cách tiếp cận đúng: Không để “người ở lại phía sau” trong quá trình khắc phục hậu quả chiến tranh.

Dẫu vậy, thực tiễn 15 năm cũng chỉ ra những điểm nghẽn cần tháo gỡ. Trước hết là nguồn lực chưa đáp ứng yêu cầu, trong khi chi phí rà phá lớn, kéo dài, phụ thuộc nhiều yếu tố địa hình, mật độ, loại vật nổ. Thứ hai là mức độ lồng ghép giữa khắc phục bom mìn với quy hoạch và dự án phát triển ở một số nơi chưa chặt, dẫn đến triển khai phân tán, thiếu liên thông dữ liệu, có nguy cơ tăng chi phí và kéo dài thời gian. Thứ ba là yêu cầu công nghệ ngày càng cao. Nếu không đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ, chuyển đổi số, tiêu chuẩn hóa quản trị dữ liệu và quy trình kiểm định chất lượng, khó có thể tăng tốc theo mục tiêu mới.

Hướng tới mục tiêu 2045

Hội nghị tổng kết Chương trình hành động quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh giai đoạn 2010-2025 tổ chức ngày 13/1, tại Hà Nội, mang ý nghĩa như một “điểm bản lề”. Từ đây, nhiệm vụ khắc phục bom mìn bước sang giai đoạn mới với đòi hỏi cao hơn về tốc độ, chất lượng và hiệu quả. Trọng tâm của hội nghị không dừng ở đánh giá kết quả 2010-2025, mà là xác định phương hướng và cơ chế triển khai thời gian tới, trong đó nổi bật là mục tiêu phấn đấu cơ bản làm sạch bom mìn vào năm 2045, gắn với dấu mốc phát triển của đất nước.

Các lực lượng rà phá bom mìn tại tỉnh Quảng Trị. Ảnh: VGP

Thông điệp cốt lõi được nhấn mạnh là khắc phục hậu quả bom mìn vừa là nhiệm vụ nhân đạo, vừa là nhiệm vụ phát triển. Một nội dung then chốt là hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa pháp lý và quy trình. Đây là điều kiện để thống nhất quản lý từ trung ương đến địa phương; bảo đảm chất lượng rà phá; hạn chế chồng chéo; đồng thời tạo khung minh bạch, rõ trách nhiệm khi huy động và sử dụng nguồn lực. Trong quản trị chương trình dài hạn, thể chế chính là “đường ray” để bộ máy chạy đúng hướng, đúng tốc độ, không bị lệch nhịp.

Bên cạnh đó, hội nghị quán triệt cách làm chống hình thức, nhấn mạnh tinh thần “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm...”, gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả thực chất. Với nhiệm vụ bom mìn, kỷ luật không chỉ là yêu cầu quản lý, mà còn là yêu cầu an toàn: Một sai sót kỹ thuật có thể trả giá bằng tính mạng; một báo cáo không thực chất có thể dẫn đến quyết định sai, gây lãng phí và rủi ro.

Cùng với đó, muốn tăng tốc làm sạch hàng triệu héc-ta đất trong điều kiện địa hình đa dạng, phải dựa vào công nghệ như: Công nghệ khảo sát, phát hiện, phân tích dữ liệu; công nghệ lập bản đồ số; công nghệ giám sát, kiểm định chất lượng; các giải pháp thiết bị hiện đại để giảm rủi ro cho lực lượng trực tiếp.

Hội nghị cũng nhấn mạnh việc tiếp tục huy động nguồn lực trong nước là cơ bản, lâu dài; đồng thời tranh thủ nguồn lực quốc tế, hợp tác kỹ thuật, vận động tài trợ. Ngoài ra, không thể tách rời nhiệm vụ rà phá khỏi giáo dục phòng tránh tai nạn và hỗ trợ nạn nhân. Làm sạch đất cần thời gian; trong khi chờ làm sạch, cộng đồng vẫn phải sống, sản xuất, đi lại. Vì vậy, tuyên truyền phòng tránh, xây dựng kỹ năng nhận biết nguy cơ, thiết lập cơ chế cảnh báo cộng đồng và chăm lo nạn nhân là “lớp phòng thủ” quan trọng, góp phần giảm thương vong và củng cố niềm tin xã hội.

Từ tổng kết 15 năm đến định hướng 2045 là một hành trình dài, nhưng không thể chậm trễ. Chương trình 504 đã tạo nền tảng quan trọng, thể chế từng bước hoàn thiện, dữ liệu ngày càng rõ, nguồn lực được huy động, nhiều vùng đất được trả lại cho phát triển. Giờ đây, yêu cầu mới là tăng tốc bằng kỷ luật thực thi, bằng công nghệ và bằng cách làm bài bản hơn, gắn chặt hơn với quy hoạch và đời sống nhân dân. Cuộc chiến với bom mìn là cuộc chiến thời bình, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan. Mỗi mét vuông đất được làm sạch hôm nay là thêm một mét vuông bình yên, thêm một mét vuông sinh kế, thêm một cơ hội phát triển. Và đó chính là ý nghĩa chính luận sâu sắc nhất của công cuộc khắc phục hậu quả bom mìn: Biến di chứng chiến tranh thành nền tảng của hòa bình, dựng thế vững bền cho tương lai đất nước.

Thu Minh (tổng hợp)

TIN LIÊN QUAN





























Home Icon VỀ TRANG CHỦ