🔍
Chuyên mục: Tài chính

Tài khóa cần 'chia lửa' với tiền tệ trong bối cảnh lạm phát chi phí đẩy

2 giờ trước
Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông và giá năng lượng đang gia tăng rủi ro do lạm phát chi phí đẩy ở Việt Nam. Một chuyên gia cho rằng trong lúc này, chính sách tiền tệ cần chuyển sang thế phòng thủ để giữ ổn định vĩ mô, trong khi chính sách tài khóa phải đóng vai trò chủ động thúc đẩy tăng trưởng…

Áp lực lạm phát chi phí đẩy đè nặng do giá xăng dầu tăng mạnh.

Trao đổi với VnEconomy, GS.TS Nguyễn Đức Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh, cho rằng điều hành chính sách tiền tệ trong giai đoạn hiện nay cần tập trung vào ba trọng tâm nhằm củng cố nội lực, tăng sức chống chịu cho nền kinh tế, bao gồm (i) truyền thông chính sách rõ ràng để neo giữ kỳ vọng lạm phát, (ii) giữ ổn định tỷ giá và (iii) kiểm soát tín dụng có chọn lọc.

Trong khi đó, chính sách tài khóa cần đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, giảm thuế phí để hạ áp lực chi phí và tăng cường an sinh xã hội. Đây là những công cụ quan trọng để vừa kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Thưa ông, những căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông gần đây tác động như thế nào đến kiểm soát lạm phát và điều hành chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam?

Những xung đột địa chính trị tại khu vực Trung Đông đẩy nền kinh tế vào tình huống rất phức tạp. Tác động dễ thấy nhất là giá xăng, dầu có thể tăng đột biến, đẩy chi phí nguyên vật liệu, vận chuyển và logistics tăng theo, từ đó buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh giá bán. Và như vậy sẽ tạo ra áp lực lạm phát do chi phí đẩy.

Giá xăng tăng vọt trong 10 ngày đầu tháng 3/2026 (Nguồn: WiGroup)

Giai đoạn 2022–2025, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam nhìn chung là tương đối tốt. Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn thì sức cầu của nền kinh tế trong năm 2025 và có thể cả năm 2026 vẫn chưa phục hồi mạnh như kỳ vọng để tạo ra một động lực tăng trưởng thật sự mạnh mẽ. Trong bối cảnh tổng cầu chưa phục hồi rõ ràng, chúng ta đã phải dựa khá nhiều vào đầu tư công để hỗ trợ tăng trưởng.

Vì vậy, bài toán hiện nay khá phức tạp: sức cầu của người dân chưa cao như kỳ vọng, trong khi áp lực lạm phát chi phí đẩy đang lớn dần, nhưng mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức cao vẫn phải đảm bảo. Chính vì vậy, câu chuyện phối hợp giữa chính sách tài khóa và tiền tệ trở nên đặc biệt quan trọng.

Theo dữ liệu thị trường, sau khi duy trì xu hướng giảm trong suốt năm 2025 và hai tháng đầu năm 2026, giá xăng RON95 đã bật tăng mạnh từ ngày 4/3/2026, với mức tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm trước.

Ở đây cần nhìn rõ bản chất của vấn đề. Lạm phát hiện nay chủ yếu xuất phát từ phía cung, khi áp lực giá đến từ chi phí sản xuất và phía người bán, chứ không phải từ sự gia tăng nhu cầu của người mua. Trong khi đó, chính sách tiền tệ lại chủ yếu tác động đến tổng cầu của nền kinh tế.

Vì vậy, chính sách tiền tệ có thể góp phần kiểm soát áp lực lạm phát thông qua việc điều chỉnh tổng cầu, nhưng khó có thể xử lý tận gốc các yếu tố làm gia tăng chi phí.

Vậy, vấn đề đặt ra trong bối cảnh này là nếu không có những hành động chính sách rõ ràng và kịp thời, rất dễ hình thành vòng xoáy giá – lương – tiền. Khi chi phí tăng, giá hàng hóa tăng, người lao động yêu cầu tăng lương, và việc tăng lương lại tiếp tục đẩy chi phí lên cao hơn.

Vì vậy, tôi cho rằng cơ quan quản lý nên thực hiện một chiến lược cân bằng động giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa. Đặc biệt, chính sách tiền tệ phải được điều hành theo hướng tối ưu thông qua nghệ thuật cân bằng.

Theo ông, trong bối cảnh hiện nay, điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam cần tập trung vào những ưu tiên nào?

Trước hết, chính sách tiền tệ cần được truyền thông một cách rõ ràng và nhất quán tới thị trường, để người dân và doanh nghiệp hiểu được lộ trình điều hành của Ngân hàng Nhà nước.

Ví dụ như trong điều hành lãi suất, thông lệ quốc tế thường theo nguyên tắc tiệm tiến và có đo lường. Nghĩa là không thay thay đổi lãi suất đột ngột mà điều chỉnh dần theo một lộ trình phù hợp để vừa kiểm soát lạm phát, vừa giữ ổn định tâm lý thị trường.

Việc Ngân hàng Nhà nước truyền thông chính sách một cách rõ ràng và nhất quán sẽ giúp neo giữ kỳ vọng lạm phát. Khi hiểu được định hướng chính sách, người dân và doanh nghiệp sẽ có những quyết định phù hợp trong đầu tư và tiêu dùng. Thị trường tin rằng cơ quan điều hành đang kiểm soát tốt lạm phát, tâm lý ổn định sẽ được duy trì và nguy cơ hình thành vòng xoáy giá – lương – tiền cũng sẽ giảm đi.

Ưu tiên số 2 là giữ ổn định tỷ giá để tránh nguy cơ nhập khẩu lạm phát. Bởi khi tỷ giá biến động mạnh, chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu và hàng hóa sẽ tăng lên, nhất là chi phí nhập khẩu xăng dầu, từ đó tạo thêm áp lực tăng giá hàng hóa trong nước. Trong những năm vừa qua, việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam duy trì tỷ giá ổn định không chỉ giúp kiểm soát lạm phát mà còn góp phần hỗ trợ xuất khẩu, qua đó giúp Việt Nam duy trì tăng trưởng nhờ xuất khẩu.

Thứ ba, cần kiểm soát tín dụng chặt chẽ, phân bổ vốn có chọn lọc. Trong bối cảnh hiện nay, cần siết chặt tín dụng đối với những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro đầu cơ cao như bất động sản hay chứng khoán, đồng thời ưu tiên cho các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thiết yếu, công nghiệp xuất khẩu và những ngành có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Bởi khi xảy ra xung đột địa chính trị, nền kinh tế thường phải đối mặt với lạm phát chi phí đẩy. Khi đó, cả người dân và doanh nghiệp thường có xu hướng tìm đến những tài sản được xem là nơi “trú ẩn” như bất động sản, vàng hay chứng khoán, với kỳ vọng bảo toàn giá trị tài sản khi đồng tiền mất giá.

Khi dòng tiền đổ vào các kênh này, đặc biệt là bất động sản, nhu cầu vốn sẽ tăng lên rất nhanh. Trong khi đó, khi kinh tế gặp biến động, thu nhập của nhiều người cũng bị ảnh hưởng. Những người có tiền thường có xu hướng tìm kiếm các kênh đầu tư mang tính kỳ vọng cao để bù đắp phần thu nhập bị suy giảm, chẳng hạn như đầu tư vào thị trường chứng khoán.

Vì vậy, nếu không kiểm soát tốt dòng tín dụng chảy vào các lĩnh vực mang tính đầu cơ, rủi ro đối với nền kinh tế sẽ rất lớn.

Nếu chính sách tiền tệ đóng vai trò ổn định vĩ mô và tăng sức chống chịu của nền kinh tế, thì chính sách tài khóa cần được triển khai như thế nào, thưa ông?

Chính sách tài khóa cần đóng vai trò chủ lực trong việc thúc đẩy tăng trưởng.

Trước hết, Chính phủ cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công để tạo thêm động lực cho nền kinh tế. Tuy nhiên, việc này phải đi kèm với yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư, đảm bảo nguồn vốn được phân bổ đúng vào những lĩnh vực thực sự cần thiết, đồng thời kiểm soát chặt chẽ các rủi ro tiêu cực có thể phát sinh trong quá trình triển khai.

Thứ hai, chính sách tài khóa cũng là công cụ quan trọng để giảm áp lực lạm phát chi phí đẩy. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc giảm thuế, phí đối với một số mặt hàng thiết yếu, đặc biệt là xăng dầu. Thực tế, Chính phủ thời gian qua đã có những bước đi khá nhanh khi giảm thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng xăng dầu về mức 0%, qua đó góp phần hạ áp lực chi phí cho nền kinh tế.

GS. TS Nguyễn Đức Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh.

Thứ ba, cần tăng cường các chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ trực tiếp cho những nhóm dễ bị tổn thương bởi lạm phát, đặc biệt là những người có thu nhập thấp.

Tóm lại, trong bối cảnh hiện nay, chính sách tài khóa cần tập trung vào ba trọng tâm: đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, giảm thuế, phí để hạ áp lực chi phí, và tăng cường hỗ trợ an sinh xã hội. Đây là những công cụ quan trọng để vừa kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Trong bối cảnh xung đột địa chính trị khiến giá nhiều mặt hàng leo thang và chi phí nguyên vật liệu, xây dựng tăng lên, nguy cơ chậm giải ngân đầu tư công cũng trở nên lớn hơn. Theo ông, cần làm gì để đẩy nhanh tiến độ giải ngân trong giai đoạn này?

Thực tế, tình trạng chậm giải ngân đầu tư công ở Việt Nam đã diễn ra trong nhiều năm. Theo các nghiên cứu của chúng tôi, nếu vốn đầu tư công được giải ngân ngay từ đầu năm và được phân bổ đều trong các tháng, thay vì dồn vào cuối năm như hiện nay, thì tăng trưởng GDP trong những tháng đầu năm sẽ được cải thiện đáng kể.

Việc chậm giải ngân đầu tư công cũng dẫn đến nhiều hệ lụy. Trước hết là nguy cơ đội vốn, bởi khi giá cả nguyên vật liệu tăng lên thì tổng mức đầu tư của dự án cũng sẽ bị đẩy lên cao hơn so với dự toán ban đầu. Vì vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là giải ngân hiệu quả mà còn phải giải ngân nhanh. Muốn làm được điều này thì việc tháo gỡ các nút thắt về thể chế là rất quan trọng.

Hiện nay, trong quá trình triển khai nhiều dự án đầu tư công, các chủ đầu tư thường khá e ngại trách nhiệm do hệ thống quy định còn nhiều thủ tục phức tạp do Việt Nam đang quá chú trọng vào khâu tiền kiểm, tức là đặt ra rất nhiều quy định và quy trình lựa chọn nhà thầu trước khi triển khai dự án.

Trong khi đó, ở nhiều quốc gia khác, họ áp dụng cơ chế hậu kiểm. Nghĩa là các quy định và tiêu chuẩn đã được đặt ra rõ ràng, còn chủ đầu tư được chủ động triển khai dự án. Sau đó, cơ quan quản lý sẽ tiến hành thanh tra, kiểm tra; nếu phát hiện sai phạm thì sẽ xử lý rất nghiêm. Cách tiếp cận này giúp rút ngắn đáng kể thời gian triển khai dự án.

Một ví dụ dễ thấy là trong xây dựng hạ tầng, có những quốc gia có thể xây dựng trung bình khoảng 3.000 km đường sắt cao tốc mỗi năm. Nếu áp dụng quy trình thủ tục quá phức tạp như Việt Nam, thì chắc chắn họ không thể đạt được tốc độ triển khai như vậy.

Ngoài ra, một số quy định như không cho phép chia nhỏ gói thầu trong nhiều trường hợp cũng chưa thật sự phù hợp, bởi có những dự án quy mô rất lớn mà một nhà thầu khó có thể đảm nhận toàn bộ.

Vì vậy, tôi cho rằng cần thay đổi tư duy trong quản lý đầu tư công, theo hướng tăng quyền chủ động cho chủ đầu tư, đồng thời hoàn thiện hệ thống quy định minh bạch để kiểm soát rủi ro. Khi có khung quy định rõ ràng và chế tài xử lý sai phạm đủ mạnh, việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm sẽ giúp tháo gỡ nhiều nút thắt trong triển khai dự án. Qua đó, tiến độ giải ngân đầu tư công có thể được cải thiện, tránh tình trạng chậm trễ kéo dài và hạn chế nguy cơ đội vốn so với dự toán ban đầu.

Phan Linh

TIN LIÊN QUAN





























Home Icon VỀ TRANG CHỦ