🔍
Chuyên mục: Sức khỏe - Y tế

Suy tĩnh mạch mãn tính: Căn bệnh âm thầm nhưng phổ biến

2 giờ trước
Bệnh tĩnh mạch ngoại biên mạn tính được dùng để chỉ những bất thường giải phẫu hoặc chức năng của hệ tĩnh mạch ngoại biên, bao gồm giãn tĩnh mạch, suy tĩnh mạch và loét da do tĩnh mạch. Phân loại CEAP phản ánh tình trạng biểu hiện trên lâm sàng của bệnh nhân.
00:00
00:00

Ba dạng lâm sàng thường được bệnh nhân và thầy thuốc chú ý là giãn tĩnh mạch (varicose veins), suy tĩnh mạch mạn tính (chronic venous insufficiency) và loét da do tĩnh mạch (venous ulcer). Tuy nhiên, chưa có định nghĩa chuẩn hoàn toàn cho các biểu hiện này, vì giãn tĩnh mạch đôi khi còn bao gồm cả giãn của hệ mao mạch nông dưới da (telangiectasias). Suy tĩnh mạch mạn tính được định nghĩa là có những thay đổi ở da hoặc phù ở ngọn chi. Loét da do bệnh tĩnh mạch, dù đã lành hay đang hoạt động, được xác định qua thăm khám lâm sàng.

PGS, TS, BS Nguyễn Hoài Nam, Chủ tịch HĐTV Bệnh viện đa khoa quốc tế Minh Anh. Ảnh: Giản Thanh Sơn

Để cập nhật kiến thức y khoa về vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn PGS, TS, BS Nguyễn Hoài Nam, Giảng viên cao cấp Bộ môn Phẫu thuật Lồng ngực và Mạch máu, Đại học Y Dược TP.HCM, Chủ tịch Hội Tĩnh mạch học TP.HCM, Chủ tịch Hội đồng thành viên Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Minh Anh… về bệnh lý tĩnh mạch ngoại biên mạn tính.

Tuổi tác ảnh hưởng như thế nào đến nguy cơ mắc bệnh và mức độ tiến triển của bệnh tĩnh mạch ngoại biên mạn tính? Ngưỡng tuổi nào cần đặc biệt lưu ý trong tầm soát, thưa Phó giáo sư?

PGS, TS, BS Nguyễn Hoài Nam: Theo nghiên cứu của tôi, nó có sự liên quan tỷ lệ thuận giữa tuổi và bệnh lý tĩnh mạch. Nhóm tuổi 70–79 có xuất độ bệnh gấp đôi nhóm 40–49. Giãn mao mạch cũng tăng theo tuổi, nhưng ở người lớn tuổi thường đi kèm giãn tĩnh mạch và biến đổi dinh dưỡng da. Rối loạn chức năng tĩnh mạch nông gặp nhiều hơn tĩnh mạch sâu khoảng 2 lần, xuất hiện nhiều nhất ở bệnh nhân cao tuổi (64%). Phù chân liên quan rõ rệt với tuổi, trong khi thuyên tắc tĩnh mạch không cho thấy mối liên quan tương tự.

Sự khác biệt giữa nam và nữ trong tỷ lệ mắc bệnh cũng như biểu hiện của bệnh ra sao?

PGS, TS, BS Nguyễn Hoài Nam: Phái nữ bị giãn tĩnh mạch nhiều gấp hai lần nam, nhưng nam lại bị loạn dưỡng da và phù nhiều hơn (khoảng 1,5 lần). Nguy cơ thuyên tắc tĩnh mạch sâu ở nam cũng cao hơn. Tuy nhiên, nghiên cứu Edinburgh cho thấy nữ bị phù nhiều hơn nam, trong khi tỷ lệ suy tĩnh mạch mạn tính ở nam lại cao hơn. Đặc biệt, huyết khối tĩnh mạch nông ở nữ gấp đôi nam, liên quan đến nội tiết tố và thai kỳ.

PGS, TS, BS Nguyễn Hoài Nam trong một ca phẫu thuật tại Bệnh viện đa khoa quốc tế Minh Anh. Ảnh: Giản Thanh Sơn

Yếu tố chủng tộc có ảnh hưởng gì đến nguy cơ và đặc điểm bệnh?

PGS, TS, BS Nguyễn Hoài Nam: Nghiên cứu SDPS cho thấy người da trắng không phải gốc Tây Ban Nha có xuất độ bệnh cao nhất, chỉ 14,3% có biểu hiện bình thường. Họ đứng đầu về giãn mao mạch, thay đổi sinh dưỡng da và bệnh chức năng tĩnh mạch sâu. Người Mỹ gốc Phi và châu Á có xuất độ thấp hơn. Một số nghiên cứu còn cho rằng bệnh phổ biến hơn ở các nước phát triển, nhưng nhận định này chưa hoàn toàn thuyết phục.

Mức độ tổn thương giải phẫu có tương quan thế nào với suy giảm chức năng tĩnh mạch trên lâm sàng?

PGS, TS, BS Nguyễn Hoài Nam: Theo tôi, nghiên cứu trên 4.422 chân của 2.211 người cho thấy sự tương hợp giữa tổn thương giải phẫu và rối loạn chức năng đạt 92%. Tuy nhiên, vẫn có 8% bất tương hợp: 4,9% có bất thường giải phẫu nhưng chức năng bình thường, và 3,1% ngược lại. Đáng chú ý, 21% số chân giãn tĩnh mạch nhưng chức năng vẫn bình thường.

Bệnh liên quan như thế nào đến phù chân, viêm tĩnh mạch nông và huyết khối tĩnh mạch sâu?

PGS, TS, BS Nguyễn Hoài Nam: Phù chân liên quan chặt chẽ với rối loạn sinh dưỡng. Xuất độ rối loạn chức năng tăng theo mức độ phù, kể cả ở chi bình thường về giải phẫu. Thuyên tắc tĩnh mạch sâu liên quan với thoái hóa sinh dưỡng và suy chức năng tĩnh mạch sâu. Tuy nhiên, có đến 26,4% chân bị phù nhưng chức năng vẫn bình thường, cho thấy tồn tại phù chân không do nguyên nhân tĩnh mạch.

Bệnh ảnh hưởng thế nào đến chất lượng cuộc sống của người bệnh?

PGS, TS, BS Nguyễn Hoài Nam: Bệnh tĩnh mạch ngoại biên mạn tính không chỉ là vấn đề thẩm mỹ mà còn ảnh hưởng đến cảm xúc và đời sống. Các nghiên cứu sử dụng thang đo SF-36 cho thấy đa số bệnh nhân giãn tĩnh mạch có chất lượng cuộc sống “không khỏe”, đặc biệt về sức khỏe thể chất. Điều này cho thấy cần đánh giá bệnh không chỉ qua lâm sàng mà còn qua tác động đến cuộc sống hàng ngày.

Kết luận cho thấy: Bệnh tăng theo tuổi, phổ biến nhất ở người da trắng không gốc Tây Ban Nha. Nữ giới thường giãn tĩnh mạch nhiều hơn, nam giới lại dễ bị loạn dưỡng da, phù và thuyên tắc tĩnh mạch sâu. Không phải mọi bất thường giải phẫu đều đi kèm rối loạn chức năng. Phù chân, thuyên tắc tĩnh mạch và rối loạn sinh dưỡng là dấu hiệu quan trọng, nhưng vẫn có tỷ lệ phù không do nguyên nhân tĩnh mạch. Các yếu tố nguy cơ gồm: tuổi, di truyền, nội tiết tố, chất lượng mô liên kết, tư thế kéo dài và thể chất.

Xin cảm ơn Phó giáo sư Nguyễn Hoài Nam đã dành cho Tạp chí Du Lịch cuộc phỏng vấn bổ ích này.

Giản Thanh Sơn


















Home Icon VỀ TRANG CHỦ