Sức sống di sản gốm men Chăm trong dòng chảy văn hóa

Nhà sưu tập, nghiên cứu cổ vật Trần Thanh Hưng (giữa) giới thiệu với công chúng tại triển lãm chuyên đề về gốm cổ Quảng Đức
Từ gốm men Gò Sành đến gốm Quảng Đức
Từ thế kỷ XI đến XV, vùng đất Vijaya (Bình Định, nay là Gia Lai) là nơi sản sinh ra gốm Chăm Gò Sành - một trong những dòng gốm cổ có kỹ nghệ chế tác đặc sắc bậc nhất khu vực Đông Nam Á thời trung đại.Với sắc men đa dạng từ men nâu, men ngọc, men vàng đến men trắng ngà, gốm Chăm Gò Sành đạt trình độ tinh xảo đến mức từng có thời kỳ bị nhầm lẫn với gốm Bạch Định của Trung Hoa.
Theo ông Trần Thanh Hưng, Chuyên viên cao cấp, Viện Nghiên cứu Phát triển Bảo tồn Văn hóa Nghệ thuật Đông Nam Á, những mảnh vỡ tàu đắm cổ tại Philippines, Indonesia, Malaysia đã chứng minh gốm Chăm Gò Sành từng là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, một mắt xích không thể thiếu trên hải trình quốc tế.

Tước rượu cá hóa long, đồ cung tiến triều Nguyễn (sưu tập Trần Thanh Hưng)
Tuy nhiên, sau cột mốc lịch sử năm 1471, khi trung tâm vùng đất gốm Chăm Vijaya dịch chuyển, số phận của kỹ nghệ gốm vĩ đại này đi về đâu? Đó từng là một "khoảng trống học thuật" lớn đối với các nhà nghiên cứu.
Ông Trần Thanh Hưng cho rằng, gốm Quảng Đức (vùng đất thuộc Phú Yên xưa, nay thuộc địa phận tỉnh Đắk Lắk) có thể là sự tiếp nối của gốm Gò Sành. Gốm Quảng Đức không xuất hiện biệt lập. Những yếu tố về kỹ thuật tạo hình, cấu trúc lò nung, và đặc biệt là hình dáng căng tròn đặc trưng của hiện vật... chính là sự kế thừa trực tiếp từ truyền thống gốm Chăm hậu Vijaya.
Không chỉ là sản phẩm làng nghề địa phương, dòng gốm này đã được quốc tế công nhận. Tại Viện Smithsonian (Hoa Kỳ), nhiều hiện vật thuộc bộ sưu tập Hauge đã trang trọng định danh dòng cổ vật này là “Quang Duc Ware”. Nếu phải tìm đặc trưng độc nhất để định danh gốm Quảng Đức trên bản đồ di sản, đó chắc chắn phải là gốm men sò Quảng Đức. Tận dụng lợi thế nằm sát đầm Ô Loan trù phú - nơi nổi tiếng với nguồn sò huyết dồi dào, các nghệ nhân xưa đã hiện thực hóa một ý tưởng đưa khoáng chất từ vỏ sò nung vôi kết hợp vào lớp men thủ công truyền thống và men nhập từ Trung Hoa.

Ché có đồ án trang trí Hổ - bàn tay (Sưu tập Trần Thanh Hưng)
Sự sáng tạo vô tiền khoáng hậu này đã để lại dấu ấn kỹ thuật có một không hai. Các nghiên cứu giới cổ vật quốc tế từng kinh ngạc ghi nhận hiện tượng những "vết sẹo vỏ sò" đặc trưng in hằn trên bề mặt gốm trong quá trình nung hỏa biến.
Điểm đắt giá nhất của gốm men sò Quảng Đức chính là tính độc bản 100%. Trong cùng một lò nung, cùng một công thức men, nhưng sự biến thiên ngẫu nhiên của ngọn lửa và nhiệt độ đã tạo nên một cuộc "khai sinh" đầy kỳ ảo. Mỗi tác phẩm ra lò là một độc bản với những sắc độ không bao giờ lặp lại: từ vàng mật ong, nâu hổ phách quý phái, xanh rêu da lươn trầm mặc cho đến sắc ánh đồng đỏ kiêu sa.
Mạch ngầm kinh tế Đông - Tây
Không chịu bó hẹp trong không gian vùng duyên hải, gốm Quảng Đức đã theo trục kinh tế sông Ba ngược ngàn lên Tây Nguyên, sắm tròn vai một "đại sứ văn hóa" kết nối hai thế giới miền xuôi và miền ngược.

Cận cảnh ché có đồ án trang trí Hổ - bàn tay (Sưu tập Trần Thanh Hưng)
Trong đời sống của đồng bào Ê Đê, Jrai, Ba Na, những chiếc ché gốm Quảng Đức không còn là vật dụng sinh hoạt thuần túy mà đã hóa thân thành tài sản gia bảo. Chúng trở thành sính lễ trong hôn sự, vật linh thiêng trong tế thần và là báu vật chứa rượu cần đón tiếp khách quý.
Tại Kông Chro (quê hương Anh hùng Núp) hay Tòa Giám mục Kon Tum (tỉnh Quảng Ngãi hiện nay), những chiếc ché cổ Quảng Đức vẫn được lưu giữ vẹn nguyên qua bao thăng trầm. Đó là những chứng nhân câm lặng nhưng đầy sức thuyết phục về một thời kỳ thông thương hưng thịnh, một biểu tượng giao thoa văn hóa thắt chặt tình đoàn kết giữa các sắc dân Chăm - Hoa - Việt.
Hiện nay, làng nghề gốm Quảng Đức cổ đã ngưng hoạt động, lực lượng nghệ nhân kế cận vắng bóng, đẩy dòng gốm quý này trước nguy cơ thất truyền ký ức. Trong bối cảnh quy hoạch tỉnh Đắk Lắk mới với không gian mở rộng từ đại ngàn xuống biển xanh, việc hồi sinh di sản gốm Quảng Đức là một yêu cầu cấp bách để phục vụ phát triển du lịch bền vững và công nghiệp văn hóa.

Ấm trà Long Thọ, đồ cung tiến triều Nguyễn (Sưu tập Trần Thanh Hưng)
Không chỉ bó hẹp trong không gian văn hóa Tây Nguyên, gốm Quảng Đức từng theo chân các thương gia quốc tế, tham gia vào mạng lưới giao thương hàng hải và góp phần hình thành nên mạch ngầm kinh tế Đông - Tây.
Chứng minh cho nhận định này, ông Trần Thanh Hưng dẫn chứng, các mảnh vỡ cổ vật được tìm thấy từ những con tàu đắm tại Philippines, Indonesia và Malaysia là minh chứng lịch sử rõ nét, khẳng định dòng gốm Gò Sành và Quảng Đức đã từng được các thương lái vận chuyển, phân phối rộng khắp từ Đông sang Tây.
Để bảo tồn phát huy giá trị di sản, ông Trần Thanh Hưng đã đưa ra 4 kiến nghị nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Cụ thể, giải pháp cấp bách đầu tiên là phải khẩn cấp khoanh vùng, bảo vệ các di tích còn sót lại của làng nghề cổ; đồng thời, các cơ quan chức năng cần chính thức công nhận, vinh danh gốm cổ Quảng Đức là làng nghề truyền thống lâu đời.
Song song với đó, Nhà nước cần hỗ trợ nguồn lực để thực hiện số hóa 2D, 3D, xuất bản ấn phẩm và phục dựng lò nung cổ truyền nhằm nung thử nghiệm các mẻ gốm men sò theo đúng quy trình cổ xưa.

Ấm trà Long Thọ, đồ cung tiến triều Nguyễn (Sưu tập Trần Thanh Hưng)
Cuối cùng, ông đề xuất quy hoạch không gian Quảng Đức thành một điểm đến du lịch trải nghiệm văn hóa liên vùng Chăm – Việt – Hoa đặc sắc, bởi lẽ giá trị đích thực của gốm Quảng Đức không nằm ở việc cố gắng sao chép lại quá khứ, mà cốt lõi chính là tôn vinh sức sáng tạo không ngừng nghỉ của cha ông trên nền tảng di sản cũ. "Đánh thức" dòng gốm men sò chính là khơi sâu thêm một mạch ngầm văn hóa độc đáo trong lòng bản sắc dân tộc Việt Nam.
XUÂN HƯỚNG
17 phút trước
3 giờ trước
16 phút trước
20 phút trước
48 phút trước
51 phút trước
52 phút trước
53 phút trước
55 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước