🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Sơ khảo lịch sử truyền thừa chốn Tổ Phúc Lâm chùa Đồi Ý Yên Nam Định

1 giờ trước
NSGN - Chùa Phúc Lâm 福林, hay còn gọi là chùa Đồi, tọa lạc tại thôn An Trung, xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định (2) . Đây là một chốn Tổ lớn có lịch sử lâu đời, đồng thời cũng là trung tâm đào tạo Tăng tài suốt nhiều năm tại khu vực huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định trước đây.

I. Khái quát về chùa Phúc Lâm

Trải qua nhiều năm chiến tranh, loạn lạc, chùa không còn giữ được các hạng mục công trình kiến trúc như xưa, tuy nhiên trong khuôn viên chùa vẫn còn giữ được hệ thống tháp Tổ khá đồ sộ, minh chứng cho lịch sử lâu đời, cũng như tầm quan trọng của chốn Tổ Phúc Lâm trong tiến trình phát triển của Phật giáo tại vùng Ý Yên Nam Định trong giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX. Trong bài viết này chúng tôi bước đầu tiến hành khảo sát và giới thiệu lịch sử truyền thừa chùa Phúc Lâm qua tư liệu bia tháp hiện tồn.

II. Truyền thống dựng tháp mộ trong Phật giáo Việt Nam

Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, tháp mộ (phù đồ, bảo tháp…) giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong thiết chế tự viện. Truyền thống dựng tháp gắn liền với quan niệm về sự vĩnh trụ của Pháp thân, sự tôn kính đối với hành trạng tu chứng của các thiền sư và vai trò ghi dấu dòng truyền thừa của mỗi ngôi chùa. Tháp mộ không chỉ là nơi an trí xá-lợi hoặc nhục thân của các bậc Trưởng lão, mà còn là “ký hiệu” của một pháp mạch, thể hiện sự tiếp nối của giới - định - tuệ qua nhiều thế hệ Tăng-già.

Về nguồn gốc, tục dựng tháp xuất hiện tại Việt Nam từ rất sớm, có thể từ thời Bắc thuộc, khi Phật giáo Ấn Độ - Trung Hoa lan truyền vào Giao Châu. Tuy nhiên, phải đến thời Lý - Trần, hình thức tháp mộ mới thực sự phát triển mạnh. Các thiền sư khai sơn các đại danh lam đều được dựng tháp để ghi dấu. Các tư liệu như Thiền uyển tập anh hay các minh văn thời Lý - Trần cho thấy tháp mộ vừa là trung tâm thờ phụng thiền sư, vừa là biểu tượng cho địa vị và đạo hạnh của các thế hệ Tổ sư. Thời kỳ này, tháp thường có cấu trúc nhiều tầng (2-7 tầng), vật liệu gạch nung, chân đế bó đá, mang phong cách kiến trúc vừa chịu ảnh hưởng Ấn - Hán vừa bản địa hóa rất rõ.

Sang thời Lê sơ và Lê Trung hưng, việc dựng tháp mộ vẫn tiếp tục nhưng có sự biến đổi. Các thiền phái - đặc biệt là Lâm Tế, Tào Động - khi phát triển mạnh ở Đàng Ngoài đã hình thành truyền thống ghi chép rất kỹ pháp phái và hành trạng trên bia tháp. Do đó, nhiều tháp mộ thời Lê - Nguyễn còn lưu văn bia dài, ghi rõ pháp hiệu, pháp tự, thế hệ truyền thừa, công hạnh tu tập, công đức trùng tu, và cả tước phong do triều đình ban. Đây là nguồn tư liệu cực kỳ quan trọng để dựng lại phả hệ Phật giáo địa phương.

Thời Nguyễn, tháp mộ xuất hiện với tần suất lớn hơn, đặc biệt là loại tháp mộ trụ, tháp vuông nhỏ, tháp đá khắc minh văn giản lược. Sự chuẩn hóa các pháp phái Lâm Tế Chúc Thánh (Đàng Trong), Lâm Tế Liễu Quán hay Lâm Tế (Đàng Ngoài) khiến truyền thống dựng tháp trở thành một phần thiết yếu của nghi lễ tang lưu tại tự viện. Mỗi ngôi chùa thường có khu tháp riêng, sắp đặt theo thứ bậc truyền thừa, gồm tháp Tổ, tháp các đời trụ trì và những vị Tăng có công hạnh đặc biệt.

Xét về chức năng, tháp mộ có ba giá trị chính. Thứ nhất, giá trị tôn giáo, khi tháp là nơi phụng thờ vị thầy khai sơn hoặc trụ trì, gắn với lễ giỗ Tổ, lễ nhiễu tháp, tảo tháp hàng năm trong mọi nghi thức của sơn môn. Thứ hai, giá trị lịch sử, tư liệu, bởi minh văn tháp mộ là nguồn sử liệu trực tiếp, giúp xác lập niên đại, pháp phái, hành trạng và tiến trình trùng tu của ngôi chùa. Thứ ba, giá trị nghệ thuật, kiến trúc, thể hiện qua kiểu dáng, họa tiết, cấu trúc tháp và sự biến đổi thẩm mỹ theo từng thời kỳ.

Như vậy, truyền thống dựng tháp mộ trong Phật giáo Việt Nam là một hiện tượng văn hóa, tôn giáo có lịch sử lâu dài, bền vững và mang tính bản sắc. Chính qua hệ thống tháp mộ, ta có thể nhận diện rõ ràng dòng truyền thừa của một ngôi chùa, từ đó thấy được mạch tiếp nối không gián đoạn của đời sống thiền môn suốt nhiều thế kỷ.

Tháp Thắng Nghiêm

III. Khảo tả và phân tích quần thể tháp Tổ chùa Phúc Lâm

Hiện tại chùa Phúc Lâm còn bảo lưu được hệ thống tháp Tổ khá đồ sộ, tổng cộng có 9 ngôi tháp, phân chia thành hai khu vực: khu A trước cửa chùa có một ngôi và khu B vị trí tại bên hông trái tòa Tam bảo có 8 ngôi tháp. Các tháp Tổ đều được xây bằng gạch trát vữa, chỉ có ngôi tháp trước cửa chùa có móng bằng đá xanh xây giật cấp. Hầu hết các ngôi tháp còn khá nguyên vẹn, tuy nhiên do thời gian lâu dài, chịu sự tác động của thời tiết nắng mưa cho nên lớp vữa áo bên ngoài bị phong hóa khá mạnh. Hệ thống tháp Tổ tại chùa Phúc Lâm lần lượt như sau:

1. Tháp Thắng Nghiêm 勝嚴塔

Đây là tháp mộ Tổ Tịch Phú, Thích Thanh Thanh Thiền sư. Mặt trước tháp có bia mộ ghi như sau: Nam-mô Thắng Nghiêm tháp Nhuận Trạch tâm địa Tịch Phú Thanh Thanh Bồ-tát thiền tọa hạ 南無勝嚴塔潤澤心地寂富清清菩薩禪座下. Tổ sinh giờ Mão, ngày 11 tháng 6 năm Hợi; viên tịch ngày mùng 6 tháng 2 năm Dậu. Theo bia tháp, Tổ là người họ Bùi làng Xâm Hồ, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, xứ Sơn Nam. Vốn là con nhà dòng dõi, từng làm quan trong triều, nhưng chán bả vinh hoa, xả trần đầu Phật, đắc pháp tại chùa Tiên Sơn núi Gôi huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng. Tại chùa Tiên Sơn, Tổ tiến hành hưng công, tạo tác khá nhiều hạng mục công trình kiến trúc. Sau đó Tổ đến trụ trì tại chùa Phúc Lâm, tổng Đại Đồi, phủ Nghĩa Hưng, xứ Sơn Nam, xây dựng nơi đây thành chốn Tổ lớn, trở thành trung tâm đào tạo Tăng tài của một vùng.

2. Tháp Tùy Quang 随光塔

Đây là tháp mộ Tổ Chiếu Khai, Thích Thân Thân Thiền sư. Bia tháp ghi thông tin như sau: Nam-mô Tùy Quang tháp, Sa-môn tâm địa pháp húy tự tự Chiếu Khai, Thích Thân Thân Bồ-tát Thiền tọa hạ南無隨光塔沙門心地法諱嗣字照 釋親親菩薩禪座下. Tổ sinh năm Giáp Thân, tịch ngày 20 tháng 9 năm Nhâm Thìn. Nguyên quán là người họ Đoàn làng Tương Thượng, huyện Nam Chân, phủ Thiên Trường. Chính tín xuất gia, đồng chân nhập đạo, xuất gia tại chùa Phúc Lâm, tổng Đồi Trung, huyện Đại An, được Sa-môn Bùi Tông Đại phó chúc cho y bát, kế đăng chốn Tổ.

3. Tháp Từ Nghiêm 慈嚴塔

Đây là tháp mộ Tổ Phổ Phụng, Thích Chiêu Chiêu Thiền sư. Bia tháp ghi thông tin như sau: Nam-mô Từ Nghiêm tháp bản sư Thanh Diệu Tỷ-kheo Sa-môn tự Phổ Phụng, hiệu Minh Triết, Thích Chiêu Chiêu hóa thân Bồ-tát thiền tọa hạ. 南無慈嚴塔本師清妙比丘沙門字普奉號明哲釋昭昭化身菩薩禪座下. Theo văn bia, Tổ nguyên quán Nam Định, người họ Nguyễn, không rõ năm sinh. Tổ tịch năm Kỷ Mùi, thọ 68 tuổi, 16 hạ lạp.

Bia tháp lập vào ngày tốt tháng 3, mùa xuân năm Canh Thân, niên hiệu Tự Đức thứ 13 (1860).

Tháp Định Lý

4. Tháp Định Lý 定履塔

Đây là tháp mộ Tổ Tâm Hảo, Thích Thuần Thuần Thiền sư. Thông tin trên bia tháp như sau: Nam-mô Định Lý tháp, nghiệp sư Tỷ-kheo pháp húy tự Tâm Hảo Sa-môn, hiệu Minh Châu, Thích Thuần Thuần Bồ-tát thiền tọa hạ 南無定履塔業師比丘法諱字心好沙門號明珠釋純純化身菩薩禪座下. Theo trong bia nói, Tổ sinh năm Mậu Tuất, viên tịch giờ Thìn, ngày 23 tháng 10 năm Đinh Mão, hưởng thọ 89 tuổi.

Bia tháp lập năm Kỷ Mùi.

5. Tháp Trung Nghĩa 忠義塔

Tháp đã bị hủy hoại, không biết cốt đang ở trong tháp nào. Hiện chỉ còn ngạch tháp bằng đá đề ba chữ “Trung Nghĩa tháp” và một tấm bia hai mặt ở đó có nội dung như sau: Nam-mô Trung Nghĩa tháp, Đệ bát Tổ sư Khiêm Nhượng, Hòa Tập Tỷ-kheo, Trần húy Đoán, tự Nguyên Điều, hiệu Vân Chu, Thích Truân Truân Thiền sư Bồ-tát thiền tọa hạ 南無忠義塔第八祖師謙讓和集比丘陳諱斷字源調號云週釋諄諄禪師菩薩禪坐下. Theo thông tin trong bia nói rõ, Tổ sinh giờ Mão, ngày mùng 2 tháng Giêng, năm Bính Thân, vãng sinh giờ Thân, ngày Tân Tỵ 14 tháng 10, năm Bính Dần, hưởng thọ 91 tuổi.

Ngoài ra còn có tháp Phổ Đồng, tháp Thụy Quang và hai ngôi tháp không tên nữa vẫn chưa biết rõ là của vị Tổ nào. Chúng tôi xin tồn nghi lại đợi các nghiên cứu tiếp theo.

Văn bia tháp Tùy Quang

VI. Dòng truyền thừa của chùa Phúc Lâm qua tháp mộ và văn bia

Thông qua tư liệu bia tháp tại chùa Phúc Lâm, có thể thấy được rằng Sơ Tổ chùa Phúc Lâm là Tổ Tịch Phú, người họ Bùi làng Xâm Hồ - Thường Tín, xuất gia đắc pháp tại chùa Tiên Sơn núi Gôi, sau đó mới sang trụ trì, mở mang cảnh trí tại chùa Phúc Lâm. Như vậy có thể khẳng định rằng mạch thiền chùa Phúc Lâm - Ý Yên được tiếp nối từ chùa Gôi (Vụ Bản - Nam Định). Tuy nhiên văn bia không nói rõ Tổ Tịch Phú đắc pháp từ vị Tổ nào tại chùa Gôi, hơn nữa tư liệu tại chùa Gôi đã mất mát khá nhiều, hiện không còn rõ ràng(3), cho nên đây vẫn còn là một nghi vấn chưa có lời giải đáp xác đáng.

Trong qua trình khảo tư liệu, chúng tôi có tìm thấy thông tin về Tổ Tịch Phú trong tác phẩm Thiền uyển truyền đăng lục do Hòa thượng Phúc Điền biên soạn. Cụ thể, mục dòng truyền của Hòa thượng Bảo Sơn Tính Dược chùa Sùng Phúc có các đệ tử là: ngành trưởng là Kim Liên Tịch Truyền, ngành thứ hai là Tổ khai sơn chùa Hoa Nghiêm Xâm Hồ, Thắng Nghiêm tháp Tịch Phú. Trong Thiền uyển truyền đăng lục có nói rõ về thân thế của Tổ Tịch Phú như sau: “Thủy Tổ khai sơn chùa Hoa Nghiêm Xâm Hồ, Thắng Nghiêm tháp Tịch Phú. Người bản xã, họ Bùi, đắc pháp từ Tổ Từ Phong Hải Quýnh, thọ 73 tuổi. Đời thứ hai: Chiếu Khai, Chiếu Hán, Chiếu Trạc. Đời thứ ba: Sa-môn Thích Nhã Quán, người huyện Chân Ninh, phủ Thiên Trường, họ Vũ, xuất gia năm 19 tuổi” (侵胡華嚴寺開山始祖,勝嚴寂富。本社人,姓裴,得法慈風祖師,夀七十三圓寂。下二傳:照 ,照漢,照濯。下三傳沙門釋雅貫,天長,真寜人,姓武,十九出家。)(4).

Như vậy, theo tư liệu từ Thiền uyển truyền đăng lục cung cấp, đối chiếu với các tư liệu hiện tồn tại chùa Phúc Lâm, có thể thấy rằng chùa Phúc Lâm là một chi phái của dòng Lâm Tế, bắt đầu từ Sơ Tổ Tịch Phú - Thích Thanh Thanh, là pháp tử Hòa thượng Từ Phong Hải Quýnh, truyền đến Tổ Nguyên Điều - Thích Truân Truân là 8 đời. Ba đời Tổ đầu tiên, hiện vẫn còn bia tháp, đồng thời vẫn còn nhận biết được thế thứ qua kệ truyền thừa. Như vậy, lịch sử truyền đăng tại chùa Phúc Lâm có thể khái quát như sau:

Tịch Phú - Thích Thanh Thanh

Chiếu Khai - Thích Thân Thân

Phổ Phụng - Thích Chiêu Chiêu

Còn khuyết

Còn khuyết

Còn khuyết

Tâm Hảo - Thích Thuần Thuần

Nguyên Điều - Thích Truân Truân

V. Kết luận

Qua việc khảo sát truyền thống dựng tháp mộ trong Phật giáo Việt Nam và đối chiếu với quần thể tháp mộ tại chùa Phúc Lâm, có thể khẳng định rằng tháp mộ không chỉ là một thiết chế mang tính nghi lễ mà còn là một hình thức lưu giữ lịch sử đặc thù của Phật giáo. Mỗi ngôi tháp vừa là nơi an trí nhục thân hoặc xá-lợi của các vị thiền sư, vừa là một “văn bản đá” ghi dấu hành trạng tu hành, công đức hoằng pháp và vị trí của các ngài trong dòng truyền thừa của tự viện.

Thông qua nghiên cứu minh văn trên hệ thống tháp mộ, có thể nhận thấy sự tiếp nối các thế hệ Tổ sư, từ Tổ khai sơn Tịch Phú đến các đời trụ trì kế đăng tiếp theo, qua đó có thể thấy được quá trình phát triển của Thiền phái Lâm Tế nói chung và sơn môn Hoa Lâm Khê Hồi nói riêng tại vùng Nam Định. Đặc biệt, trong bối cảnh nhiều tư liệu thành văn bị thất lạc hoặc sai lệch, tháp mộ và bia ký trở thành nguồn sử liệu gốc, có độ tin cậy cao, góp phần hiệu đính và bổ sung cho các thư tịch Phật giáo và địa phương chí.

Có thể nói, việc nghiên cứu hệ thống tháp mộ và dòng truyền thừa tại chùa Phúc Lâm không chỉ góp phần làm sáng tỏ lịch sử riêng của một ngôi chùa, mà còn đóng góp thiết thực cho việc nhận diện diện mạo Phật giáo Việt Nam trong tiến trình lịch sử. Đây đồng thời là cơ sở khoa học quan trọng cho công tác bảo tồn, trùng tu và phát huy giá trị di sản Phật giáo trong bối cảnh đương đại.

ThS.Trần Tất Quyến(1)/Nguyệt san Giác Ngộ

----------------------------------

(1)Nơi công tác: Viện Trần Nhân Tông, ĐHQGHN.

(2)Sau sáp nhập là xã Yên Đồng, tỉnh Ninh Bình.

(3)Về lịch sử chùa Gôi chúng tôi xin làm rõ trong bài viết riêng.

(4)Thiền uyển truyền đăng lục, quyển hạ, tr.32. Thư viện Huệ Quang xuất bản.

(NSGN - 360)

















Home Icon VỀ TRANG CHỦ