🔍
Chuyên mục: Nghệ thuật

Số hóa tư liệu văn hóa dân gian

9 giờ trước
Văn hóa dân gian là hệ thống tri thức có nội hàm rộng lớn, bao gồm nhiều loại hình như văn học dân gian, các tín ngưỡng, phong tục, lễ hội, nghệ thuật dân gian… do cộng đồng sáng tạo và thực hành qua nhiều thế hệ, lưu truyền chủ yếu bằng hình thức truyền miệng.

Công nghệ chiếu sáng AGS ứng dụng vào đại cảnh đèn kéo quân khổng lồ với những họa tiết tranh dân gian trong không gian lễ hội ở Thành phố Hồ Chí Minh đầu năm 2026.

Văn hóa dân gian là hệ thống tri thức có nội hàm rộng lớn, bao gồm nhiều loại hình như văn học dân gian, các tín ngưỡng, phong tục, lễ hội, nghệ thuật dân gian… do cộng đồng sáng tạo và thực hành qua nhiều thế hệ, lưu truyền chủ yếu bằng hình thức truyền miệng. Việc số hóa nguồn tư liệu quý giá này là yêu cầu cấp bách, góp phần phát triển văn hóa đất nước trong thời kỳ mới.

Phương pháp lưu trữ mới

Tiến sĩ Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Trường cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Việt Bắc cho rằng, tri thức văn hóa dân gian chứa đựng những kinh nghiệm đúc rút từ đời sống sinh hoạt của người dân trong suốt chiều dài lịch sử. Những giai thoại, truyền thuyết về con người, địa danh, sự kiện gắn với từng vùng đất, từng tộc người trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam từ lâu đã là chất liệu hấp dẫn tạo nên sự thú vị của du lịch địa phương, là tài nguyên phong phú vô tận làm nền tảng cho các sáng tạo văn hóa mới.

Điểm đáng chú ý của văn hóa dân gian nằm ở chỗ: tác giả sáng tạo là cả cộng đồng chứ không phải cá nhân cụ thể. Cách thức lưu truyền của các giá trị văn hóa dân gian không dựa trên chữ viết, sách in mà dựa vào việc thực hành, trình diễn, truyền miệng. Trong thời đại 4.0, phương pháp lưu trữ tư liệu bằng hình thức truyền miệng đang dần được thay thế bằng các ứng dụng công nghệ. Đây là sự thay đổi mang tính cách mạng.

Với một đất nước có nền văn hóa đa dạng, nhất là kho tàng văn hóa dân gian đồ sộ, việc chuyển đổi tư liệu lên không gian số thật sự hữu ích, tạo cơ hội để nguồn tri thức này tiếp cận được với mọi người dân, trở thành chất liệu sáng tạo văn hóa mới; đồng thời, giúp cho việc bảo tồn, gìn giữ loại hình văn hóa này hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, việc chuyển đổi tư liệu văn hóa dân gian thành dữ liệu trên không gian số gặp đang gặp nhiều thách thức. Tính linh hoạt, sinh động và luôn biến động của loại hình văn hóa này tạo ra những khó khăn đặc thù trong việc thu thập, xác định nguồn dữ liệu chính xác.

Văn hóa dân gian luôn được nằm trong chỉnh thể bao gồm không gian thực hành, thường gắn với các vùng quê, làng xã; nhưng trên thực tế, không gian này đang ngày càng bị thu hẹp. Nhiều phong tục, thói quen, lễ hội, nghi thức tín ngưỡng, làn điệu dân ca cổ đứng trước nguy cơ dần mai một. Do các tư liệu dân gian lưu trữ bằng hình thức truyền miệng, phân tán trong cộng đồng cho nên việc thu thập, kiểm chứng để trở thành nguồn dữ liệu chuẩn không dễ.

Mặc dù công tác sưu tập, ghi chép, thu âm, ghi hình, đối thoại với các nghệ nhân đã được quan tâm nhưng còn thiếu tính hệ thống. Trong khi một số địa phương đã và đang làm tốt công tác xây dựng cơ sở dữ liệu số về văn hóa dân gian, thì nhiều nơi vẫn còn xem nhẹ việc này.

Bất cập trong chuẩn hóa dữ liệu khiến các chuyên gia lo ngại về nguy cơ mất “tính nguyên bản” của các loại hình văn hóa dân gian khi được số hóa.

Theo Tiến sĩ Trần Hữu Sơn, nguyên Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, văn hóa dân gian thường gắn với không gian sinh hoạt, thí dụ các sinh hoạt mang màu sắc tín ngưỡng, tôn giáo, các nghi lễ cúng tế phải gắn với “không gian thiêng”. Nếu dữ liệu được số hóa mất đi không gian đó, các hoạt động văn hóa dân gian sẽ không còn giữ được vẻ đẹp nguyên thủy, không phát huy hiệu quả vào sự nghiệp phát triển và sáng tạo văn hóa. Chưa kể, khó khăn từ nguồn kinh phí và hạ tầng công nghệ hạn chế, đội ngũ nhân lực có chuyên môn về công nghệ và văn hóa còn yếu cũng đang là những bất cập đòi hỏi phải có giải pháp căn cơ, đồng bộ cho công tác số hóa nguồn dữ liệu độc đáo này.

Tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ, nguồn nhân lực

Để thúc đẩy số hóa nguồn tư liệu văn hóa dân gian, giải pháp quan trọng đầu tiên là tăng cường đầu tư hạ tầng số và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa. Muốn có nguồn dữ liệu chuẩn, cần khuyến khích, ưu tiên, tạo điều kiện cho đội ngũ các nhà nghiên cứu, chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực này.

Trong muôn vàn tư liệu thu thập, cần có hội đồng đánh giá khách quan, khoa học để chuẩn hóa nguồn dữ liệu đầu vào, bảo đảm các dữ liệu được số hóa đủ tin cậy, chính xác. Cần thúc đẩy đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức liên ngành công nghệ và văn hóa.

Ngày nay, một chuyên gia về văn hóa dân gian không thể thiếu các kỹ năng công nghệ. Việc khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong cung cấp và bảo tồn tư liệu là rất cần thiết, vì văn hóa dân gian là những giá trị tinh túy được nhân dân không ngừng sáng tạo, bổ sung.

Ngày nay, một chuyên gia về văn hóa dân gian không thể thiếu các kỹ năng công nghệ. Việc khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong cung cấp và bảo tồn tư liệu là rất cần thiết, vì văn hóa dân gian là những giá trị tinh túy được nhân dân không ngừng sáng tạo, bổ sung.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Tuyết Nhung nhấn mạnh, văn hóa dân gian là các giá trị mở, luôn được bồi đắp phong phú qua các thời kỳ lịch sử. Muốn lưu trữ, bảo tồn, phát triển và sáng tạo thì việc tạo điều kiện cho người trẻ tham gia đồng hành sáng tạo phải được quan tâm, khuyến khích.

Thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến không ít tác phẩm đương đại của nghệ sĩ trẻ lấy cảm hứng từ chất liệu dân gian được công chúng trong và ngoài nước yêu thích. Đây là tín hiệu đáng mừng, bởi người trẻ - với sự hiểu biết về công nghệ và khả năng sáng tạo, nhiệt huyết mới - sẽ là nhân tố duy trì, tiếp nối, nâng tầm, tạo ra sức sống mới cho loại hình văn hóa này.

Về mặt thể chế, chuyên gia cũng khuyến nghị, cần không ngừng hoàn thiện các quy định về bản quyền và bảo vệ dữ liệu số để bảo đảm việc khai thác di sản an toàn, nhân văn. Theo đó, phải đặc biệt lưu tâm vấn đề bản quyền, vốn đang là một vấn đề nóng hiện nay.

Trong khai thác dữ liệu văn hóa dân gian, bản quyền thuộc về tác giả là cộng đồng. Đây chính là một điểm khó, nhất thiết phải thể hiện trong các quy định mang tính pháp lý. Cần làm rõ chủ thể của bản quyền là ai; trong khai thác, sử dụng giới hạn nào là miễn phí, giới hạn nào phải trả phí. Thí dụ, các nghệ sĩ lấy chất liệu dân gian để đưa vào tác phẩm thì bản quyền cần giải quyết theo hướng nào.

Việc cụ thể hóa những nội dung bằng văn bản pháp luật giúp cho việc sử dụng, khai thác dữ liệu trở nên minh bạch, trách nhiệm để các giá trị văn hóa dân gian thật sự trở thành nguồn lực nền tảng, hữu ích, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, góp phần hoàn thành mục tiêu Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 mà Chính phủ đã đề ra.

VŨ QUỲNH

















Home Icon VỀ TRANG CHỦ