Số hóa di sản - Bài 2: Bảo tàng truyền thống chuyển mình
Sau những trải nghiệm ảo sinh động mà người trẻ đang đón nhận trong không gian di sản, nhiều đơn vị tiên phong trong lĩnh vực công nghệ và văn hóa đã bước vào hành trình số hóa, biến việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản trở thành một phần của chuyển đổi số quốc gia.

Một bạn trẻ tìm hiểu về bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám trên điện thoại.
Thực tế này diễn ra trong bối cảnh Nhà nước đã có những định hướng và yêu cầu cụ thể về số hóa di sản văn hóa. Quyết định 2026/QĐ-TTg năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình số hóa di sản văn hóa giai đoạn 2021-2025 đã xác định rõ mục tiêu xây dựng hệ thống dữ liệu số về di sản, gắn bảo tồn với phát huy giá trị, phục vụ công tác quản lý nhà nước, nghiên cứu khoa học và nhu cầu thụ hưởng văn hóa của xã hội.
Mới đây, Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa trong giai đoạn mới cũng chủ trương đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa.
Đa dạng hóa trải nghiệm cho người xem
Nhiều cơ quan quản lý di tích, bảo tàng cũng đã chủ động triển khai các hoạt động số hóa nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phục vụ khách tham quan.
Năm 2024, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế phối hợp với Trung tâm Công nghệ thông tin tỉnh Thừa Thiên-Huế triển khai định danh số cho 10 cổ vật triều Nguyễn đang trưng bày tại Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế. Các cổ vật được gắn chip NFC, cho phép khách tham quan sử dụng điện thoại thông minh để tiếp cận thông tin về nguồn gốc, lịch sử, giá trị văn hóa và hình ảnh 3D của hiện vật.

Hình ảnh chùa Diên Hựu phục dựng bằng công nghệ thực tế ảo. Ảnh trong bài: VIẾT THỊNH
“Việc ứng dụng công nghệ giúp kết nối các hiện vật đang được lưu giữ với không gian số, hỗ trợ công tác lưu trữ, quản lý và phát huy giá trị di sản văn hóa Huế” - ông Hoàng Việt Trung, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế, nhận định.
Việt Nam đang sở hữu kho tàng di sản văn hóa đồ sộ, phong phú và đa dạng: 40.000 di tích trong danh mục kiểm kê; 3.677 di tích quốc gia; 147 di tích quốc gia đặc biệt; 11.000 di tích cấp tỉnh; 9 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới; 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận; 11 di sản tư liệu được UNESCO công nhận là di sản ký ức; 183 bảo tàng công lập và bảo tàng ngoài công lập đang lưu giữ hơn 4 triệu hiện vật có giá trị; 327 bảo vật quốc gia hiện được lưu giữ tại các bảo tàng, di tích trong hầu hết 34 tỉnh, TP trong cả nước.
Bên cạnh Huế, nhiều bảo tàng như Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử TP.HCM, Bảo tàng Hồ Chí Minh cũng đã triển khai các tour tham quan ảo. Các tour này tích hợp hình ảnh, video, thuyết minh âm thanh và sơ đồ không gian, góp phần đa dạng hóa trải nghiệm cho người xem.
Dự án ảo hóa không gian Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam cũng đã được triển khai nhằm tạo điều kiện để công chúng tiếp cận di sản trong môi trường số. Đơn vị thực hiện hạ tầng công nghệ cho dự án này là Công ty CP YooTek Holdings, đơn vị phát triển ứng dụng mạng xã hội thực tế ảo YooLife. Theo ông Nguyễn Mạnh Tùng, Tổng Giám đốc công ty, ý tưởng xây dựng một nền tảng công nghệ phục vụ số hóa di sản được hình thành từ mong muốn kết nối con người với các giá trị văn hóa, lịch sử.
“Nhiều giá trị văn hóa, lễ hội, di tích đứng trước nguy cơ mai một theo thời gian, trong khi hình thức lưu giữ truyền thống như hình ảnh hay video khó phản ánh đầy đủ chiều sâu của di sản. Việc ứng dụng công nghệ giúp tái hiện không gian, hiện vật và bối cảnh lịch sử một cách sinh động hơn, tạo điều kiện để người xem chủ động khám phá và tương tác” - ông Tùng cho biết.
Bảo tàng truyền thống đang số hóa để tiếp cận khách
Không chỉ các doanh nghiệp công nghệ, những đơn vị quản lý di tích cũng đang chủ động chuyển mình trong việc đưa di sản lên không gian số. Ông Lê Xuân Kiêu, Giám đốc Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám (trung tâm), cho biết việc ứng dụng công nghệ số bắt đầu từ năm 2022, xuất phát từ nhu cầu phát huy giá trị di tích và đáp ứng nhu cầu trải nghiệm mới của khách tham quan.
Quá trình triển khai, theo đại diện trung tâm, gặp không ít khó khăn về nguồn lực. Để khắc phục, đơn vị đã tiến hành khảo sát, đánh giá, lựa chọn nhiệm vụ ưu tiên, phân bổ nguồn lực hợp lý, đảm bảo sản phẩm số hóa phục vụ hiệu quả công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích.

Các kỹ thuật viên của Yoolife đang thực hiện việc số hóa di sản một công trình.
Tính đến nay, hệ thống thuyết minh tự động tại Văn Miếu đã được triển khai bằng 12 ngôn ngữ, hơn 200 hiện vật được số hóa, cùng bộ sách công nghệ gồm 30 cuốn giới thiệu về giá trị di tích. Ngoài ra, nhiều sản phẩm công nghệ mới như cụ rùa AI, kính thực tế ảo, ki-ốt thông tin điện tử cũng đang thu hút sự quan tâm lớn từ công chúng.
Theo ông Kiêu, hệ thống dữ liệu được số hóa không chỉ phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý, bảo tồn giá trị vật thể và phi vật thể của di tích mà còn tạo nền tảng phát triển các sản phẩm ứng dụng công nghệ phục vụ khách tham quan ngày càng tốt hơn, tăng cơ hội để họ trải nghiệm, tương tác.
Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam cũng được biết đến là một trong những bảo tàng đi đầu trong triển khai số hóa. Từ năm 1997, bảo tàng đã nghiên cứu và xây dựng phần mềm quản lý. Có thể kể đến những trưng bày chuyên đề đã từng được giới thiệu dưới dạng số hóa gồm: “Di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam”, “đèn cổ Việt Nam” và “linh vật Việt Nam”. Sau đó, bảo tàng tiếp tục xây dựng trưng bày ảo 3D hệ thống trưng bày thường trực của bảo tàng với các chủ đề: “Việt Nam thời tiền sử”, “văn hóa Đông Sơn”, “Triều Ngô - Đinh - Tiền Lê - Lý, Trần”, “văn hóa Óc Eo - Phù Nam”. Từ năm 2013 cho đến nay, bảo tàng đã số hóa được hơn 200 trên tổng số 200.000 mẫu vật trưng bày tại bảo tàng.•
VIẾT THỊNH