🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Số hóa bản đồ cổ

2 giờ trước
HNN - Xây dựng hạ tầng dữ liệu số để giữ lịch sử trên bản đồ là cách Lê Quang Tuệ - người sáng lập và điều hành dự án Vietnam Map Archive, cùng những thành viên trong nhóm âm thầm thực hiện. Hiện nhóm của Tuệ đã số hóa hơn 200 bản đồ cổ của Việt Nam trong đó có bản đồ cổ của Huế.

Lê Quang Tuệ

Trong kỷ nguyên số, khái niệm bảo tồn di sản đang có những bước chuyển dịch mạnh mẽ. Không chỉ dừng lại ở việc trùng tu vật lý hay trưng bày hiện vật trong tủ kính, bảo tồn giờ đây còn là cuộc đua của công nghệ lưu trữ và xử lý dữ liệu. Một dự án trong làn sóng này là Kho lưu trữ Bản đồ Việt Nam - Vietnam Map Archive (VMA) - sáng kiến do bạn trẻ Lê Quang Tuệ khởi xướng nhằm xây dựng hạ tầng tri thức số cho di sản Việt Nam.

Tiếp cận di sản từ khoa học dữ liệu

Vietnam Map Archive được xây dựng như một giải pháp hạ tầng số (Digital Infrastructure) nhằm giải quyết bài toán phân mảnh dữ liệu lịch sử tại Việt Nam. Đây là một hướng đi rất thực tế, bởi nhu cầu tra cứu và sử dụng dữ liệu không gian trong quy hoạch, du lịch và giáo dục đang rất lớn nhưng nguồn cung lại thiếu hệ thống.

“Chúng tôi tiếp cận di sản không xuất phát từ sự hoài cổ, mà từ góc nhìn của khoa học dữ liệu”, Lê Quang Tuệ chia sẻ về tầm nhìn của dự án.

Khởi đầu với dữ liệu Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh dựa trên nền tảng tri thức bản địa (local knowledge) sẵn có, việc dự án mở rộng sang Huế có thể nói là một cơ duyên khi Tuệ tham gia một cuộc tọa đàm của TROY (The Roundtable discussion of Youth), được tổ chức tại TP. Huế với chủ đề “Tiếp nối và phát triển di sản Huế”. Cấu trúc đô thị và hệ thống dữ liệu di sản đa tầng của Huế chính là môi trường lý tưởng để kiểm chứng tính hiệu quả của mô hình quản lý di sản bằng công nghệ số.

“Là một đô thị di sản, trầm tích văn hóa dày đặc của Huế không chỉ nằm ở cụm di tích Cố đô mà trong cả không gian đô thị và văn hóa nghệ thuật, như Trung tâm Nghệ thuật Điềm Phùng Thị, Không gian Lưu niệm Lê Bá Đảng... Hệ thống di sản đồ sộ này vừa là cơ hội vừa là thách thức cho Huế”, Tuệ chia sẻ. Là thách thức, bởi theo Tuệ, để hiểu và trân trọng di sản cần kiến thức nhất định và thời gian tiếp xúc đủ lâu. Trong khi đó, hiện nay, phần lớn du khách được tiếp xúc với di sản thông qua du lịch văn hóa với lịch trình dày đặc và thời gian giới hạn. Điều này khiến nhiều du khách sau khi trở về từ Huế chỉ nhớ được những nét đại thể về di tích Cố đô và hình ảnh một xứ mơ mộng.

“Nhưng, liệu cảm giác ấy có đủ để chúng ta thực sự kết nối với di sản? Hay đó chỉ là một sự chiêm ngưỡng từ xa, một cái chạm bề mặt vào một thế giới mà ta chưa thực sự hiểu?”, Tuệ luôn tự hỏi. Từ những trăn trở này, Tuệ bắt đầu dự án với bản đồ xưa. Anh chia sẻ: “Di sản luôn tồn tại trong hai chiều kích: Thời gian và không gian. Bản đồ cổ chính là khung xương sống chính xác nhất để tái dựng bối cảnh đó. Khi đặt một địa điểm, một con đường lên bản đồ, chúng ta không chỉ thấy vị trí của nó, mà còn hiểu được mối quan hệ hữu cơ của nó với hệ thống thủy văn, giao thông và quy hoạch của người xưa”.

Đồng kiến tạo

“Là một người làm việc với dữ liệu và quan tâm đến chuyển đổi số cùng di sản, tôi ấn tượng trước các nỗ lực của Huế trong việc tạo ra các điểm chạm về văn hóa cho du khách. Là người dùng và khách du lịch, tôi được cung cấp rất nhiều thông tin, nhưng chúng lại rời rạc và thiếu tính hệ thống. Điều này khiến việc học và hiểu về di sản trong những bối cảnh lịch sử và văn hóa cụ thể không toàn vẹn”, Tuệ chia sẻ. Và đây cũng là thách thức đặt ra cho Tuệ trong nỗ lực ghép những “mảnh lịch sử” thành một hệ sinh thái sống động, nơi cộng đồng cùng sử dụng, đóng góp và đối thoại về di sản.

Bản đồ Kinh thành Huế (Plan de la citadelle de Hue năm 1885), tỷ lệ 1/7.000 đã được nhóm của Tuệ số hóa

Làm dày kho dữ liệu và có được hiểu biết đầy đủ nhất, Tuệ và các cộng sự phải tích hợp rất nhiều lớp dữ liệu khác, gồm văn bản, ảnh, bản vẽ và cả những câu chuyện truyền miệng. “Khi tập hợp đủ các tài liệu này, chúng ta có thể tái hiện một khu vực tại một thời điểm trong lịch sử, cả những con người và câu chuyện tạo ra nó. Nói một cách tham vọng, là tái hiện gần như toàn bộ văn hóa của khu vực đó một cách sống động và gần gũi. Tôi tin rằng, chỉ khi ấy, công chúng mới có thể hiểu và yêu di sản một cách trọn vẹn”, Tuệ khẳng định.

Điểm khác biệt lớn nhất của VMA nằm ở tư duy “Đồng kiến tạo” (Co-creation). Thay vì xây dựng một kho lưu trữ một chiều (nơi người dùng chỉ vào xem), dự án hướng tới việc tích hợp các yếu tố “Cộng đồng tham gia” (Participatory) và “Trò chơi hóa” (Gamification). Người dân, du khách có thể đóng góp trực tiếp tài liệu và câu chuyện của họ, cũng như tạo ra các trao đổi và kết nối có ý nghĩa ngay trên nền tảng số. Người dân Huế có thể tải lên những câu chuyện truyền miệng từ ông bà, ảnh cũ về các địa danh quen thuộc, hoặc thậm chí là bản ghi âm về các nghi lễ văn hóa địa phương. Khi cộng đồng được trao quyền làm chủ dữ liệu, ý thức bảo tồn sẽ được hình thành một cách tự nhiên và bền vững.

Tham vọng về hạ tầng

Tuệ cho hay, kho dữ liệu thô với hơn 200 bản đồ cổ trải dài khắp Việt Nam mà VMA đang sở hữu, trong đó gần 50 bản đồ trọng điểm của Huế và Sài Gòn đã được xử lý kỹ thuật và công bố, mới chỉ là bước khởi đầu trong lộ trình công nghệ ba giai đoạn: Từ xử lý hình ảnh (Raster) sang số hóa dữ liệu (Vector) và tiến tới trí tuệ nhân tạo (AI). Tầm nhìn của nhóm là biến VMA thành một hạ tầng tri thức mở (Open Infrastructure). Nhóm cung cấp dữ liệu sạch và chuẩn hóa để các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp du lịch hay nhà phát triển game có thể sử dụng cho sản phẩm của họ.

Xa hơn, VMA đang nghiên cứu ứng dụng Computer Vision (Thị giác máy tính) để tự động hóa việc nhận diện kiến trúc từ ảnh cũ, hướng tới mục tiêu phục dựng Bản sao số (Digital Twin) 3D của các đô thị di sản. Đây là bước đi đón đầu xu hướng đưa di sản vào không gian ảo (Metaverse) và thực tế tăng cường (AR/VR).

Mô hình kết hợp giữa lịch sử và công nghệ địa lý (Historical GIS) đã được các đại học danh tiếng như Harvard hay Stanford triển khai từ lâu. Với VMA, những người trẻ Việt Nam như Lê Quang Tuệ và cộng sự đang chứng minh họ hoàn toàn có đủ năng lực để làm chủ công nghệ và xây dựng những “bảo tàng số” sống động cho thế hệ tương lai.

Hiện VMA đã hoàn tất khâu xử lý kỹ thuật và công bố gần 50 bản đồ trọng điểm của Huế và Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh trên nền tảng số; trong đó, có 10 bản đồ Huế trải dài từ năm 1819 đến 1968. Những bản đồ đầu tiên tập trung mô tả khu vực kinh thành Huế, sau đó mở rộng ra khu vực xung quanh gồm toàn thành phố. Nguồn bản đồ được lấy từ thư viện số của thư viện quốc gia Pháp, thư viện quốc hội Hoa Kỳ, thư viện Đại học Côte d’Azur và thư viện Đại học Texas tại Austin.

Ngọc Hà















Home Icon VỀ TRANG CHỦ