🔍
Chuyên mục: Sức khỏe - Y tế

Số ca ung thư vú tăng liên tục, chưa đến 20% phụ nữ tự khám hằng tháng

44 phút trước
Tần suất mắc và tử vong do ung thư vú đã tăng không ngừng trong 15 năm qua và được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng trong nhiều thập kỷ tới.

Đó là chia sẻ của TS.BS. Trần Đặng Ngọc Linh, Trưởng khoa Xạ trị Phụ khoa, Bệnh viện Ung Bướu TPHCM tại Hội thảo triển khai công tác phòng chống ung thư vú, ung thư cổ tử cung khu vực phía Nam do Bộ Y tế phối hợp với Roche Việt Nam tổ chức ngày 6/8.

Theo đó, năm 2024, thế giới ghi nhận hơn 2,4 triệu ca ung thư vú mắc mới, chiếm 24,3% tổng số ca ung thư ở nữ giới.

Tại Việt Nam, căn bệnh này cũng đứng đầu về số ca mắc mới và tử vong do ung thư ở nữ. Năm 2024 có khoảng 25.700 phụ nữ được chẩn đoán mắc ung thư vú và hơn 10.600 trường hợp tử vong. Đáng lo ngại, tần suất mắc và tử vong đã tăng liên tục trong 15 năm qua và được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng trong nhiều thập kỷ tới.

TS Nguyễn Hoàng Thùy Linh, Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế cho rằng một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ tử vong vẫn còn cao là hơn 60% số người bệnh được phát hiện ở giai đoạn III hoặc IV. Tỷ lệ sống sau 5 năm của bệnh nhân ung thư vú tại Việt Nam hiện chỉ đạt khoảng 74%, thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia phát triển.

Các chuyên gia cho rằng số ca mắc gia tăng là hệ quả của nhiều yếu tố. Bên cạnh dân số già hóa và tuổi thọ phụ nữ ngày càng tăng, những thay đổi về lối sống như thừa cân, béo phì, ít vận động, uống rượu bia, cùng các yếu tố nội tiết như sinh con muộn, ít con, ít cho con bú... đều góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Ngoài ra, hệ thống chẩn đoán và đăng ký ung thư ngày càng hoàn thiện cũng giúp phát hiện được nhiều trường hợp hơn trước.

Khoảng 80% số bệnh nhân ung thư vú không có yếu tố nguy cơ đặc hiệu ngoài giới tính và tuổi tác. Vì vậy, sàng lọc định kỳ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát hiện sớm bệnh.

Hiệu quả điều trị phụ thuộc rất lớn vào thời điểm phát hiện. Nếu được chẩn đoán ở giai đoạn sớm, tỷ lệ sống sau 5 năm có thể đạt gần 100%. Trong khi đó, khi bệnh đã di căn xa, tỷ lệ này chỉ còn khoảng 30%.

Tuy nhiên, TS Nguyễn Hoàng Thùy Linh cho rằng tỷ lệ phụ nữ được khám sàng lọc còn thấp. Chỉ 14-19% tự khám vú hằng tháng, khám lâm sàng 22-51% tùy nông thôn hay thành phố.

Những rào cản như thiếu kiến thức, chi phí, khoảng cách địa lý và chưa có hệ thống nhắc khám định kỳ khiến nhiều phụ nữ bỏ lỡ cơ hội phát hiện bệnh sớm.

Ông Đinh Anh Tuấn phát biểu. Ảnh: Thu Thủy.

Phát biểu tại hội thảo, ThS.BS. Đinh Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế), cho biết Kế hoạch Hành động quốc gia về phòng chống ung thư vú đặt ra các mục tiêu cụ thể, không chỉ nâng cao tỷ lệ sàng lọc mà còn cải thiện chất lượng chẩn đoán, điều trị và chăm sóc người bệnh.

Từ năm 2013 đến nay, Bộ Y tế phối hợp với Roche Pharma Việt Nam tầm soát miễn phí cho hơn 80.000 phụ nữ, đào tạo khoảng 600 chuyên gia y tế. Theo mục tiêu của Bộ Y tế, đến năm 2030 sẽ có 50% phụ nữ từ 40-70 tuổi được sàng lọc định kỳ, tăng lên 70% vào năm 2035; đồng thời nâng tỷ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm lên lần lượt 40% và 60%, góp phần giảm trung bình 2,5% tỷ lệ tử vong do ung thư vú mỗi năm trong giai đoạn 2026-2035.

Phương Thúy

TIN LIÊN QUAN



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ