Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần
Nhưng phía sau những bước chân vượt suối, băng rừng kéo dài từ sáng đến chiều là một thực tế đang hiện hữu, những món quà của đại ngàn không còn dễ tìm như trước, đường mưu sinh ngày một xa hơn, và sinh kế của những bản làng sống dựa vào rừng cũng trở nên chông chênh hơn.
Những bước chân mưu sinh không ngơi nghỉ
Chiều xuống bản Khe Cát, xã Trường Sơn, ông Hồ Thịnh (60 tuổi), người Bru - Vân Kiều, lại ra bên con suối Cổ Tràng ngồi chờ. Ánh mắt ông hướng về phía những cánh rừng phía xa, nơi những người thân trong gia đình vẫn đang miệt mài tìm mây. Ông không còn đủ sức để theo những chuyến đi rừng dài như trước, nhưng thói quen đợi người trở về sau một ngày “ăn mây” đã trở thành một phần trong cuộc sống.
Với người Bru - Vân Kiều ở Trường Sơn, rừng không chỉ là nơi có cây cối, muông thú. Rừng là không gian sinh tồn, là nơi lưu giữ những kinh nghiệm truyền đời và cũng là nguồn thu nhập gắn bó với mỗi gia đình. Trong câu chuyện của ông Thịnh, cây mây hiện lên như một người bạn lâu năm của bản làng. Từ những vật dụng đơn giản trong đời sống như gùi đựng lúa, dây buộc, dụng cụ sinh hoạt đến những chi tiết trong ngôi nhà sàn, đâu đâu cũng có dấu vết của những sợi mây rừng dẻo dai.

Đời sống của người Bru - Vân Kiều ở bản Khe Cát chủ yếu dựa vào rừng.
Nhưng theo thời gian, mây không còn chỉ là vật liệu phục vụ cuộc sống tự cung tự cấp. Khi nhu cầu thị trường tăng lên, những sợi mây từ đại ngàn Trường Sơn đã trở thành nguyên liệu hàng hóa, nối những bản làng vùng cao với các cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ ở miền xuôi. Để có được những bó mây ấy, người dân phải đánh đổi bằng những ngày dài giữa rừng sâu.
Cuối buổi chiều, bà Hồ Thị Thư (50 tuổi) cùng con dâu Hồ Thị Lan trở về bản sau một ngày luồn rừng. Sau lưng hai mẹ con là những bó mây dài được kéo lê trên mặt nước con suối để giảm bớt sức nặng. Bó mây bà Thư kéo về khoảng 30kg, còn của chị Lan hơn 50kg. Với giá thu mua khoảng 5.000 đồng/kg, sau một ngày băng rừng, bà Thư kiếm được khoảng 150.000 đồng, còn chị Lan có thể thu về hơn 250.000 đồng.
“Mây nhiều gai lắm. Đi rừng phải cẩn thận, chỉ sơ ý là bị đâm chảy máu. Nhưng cực nhất vẫn là kéo mây từ rừng ra đến suối”, bà Thư nói. Một chuyến đi “ăn mây” thường bắt đầu từ khi trời còn sớm và kết thúc khi chiều đã phủ xuống các bản làng. Người dân thường tìm mây ở những khu vực ven suối, sau đó tận dụng dòng nước để đưa mây về, giảm bớt sức nặng trên vai.
Theo bà Thư, cây mây có quanh năm nhưng việc khai thác chủ yếu diễn ra vào mùa khô. Vào mùa mưa, đường rừng trơn trượt, cây cối ẩm ướt, sên vắt nhiều khiến việc đi lại và vận chuyển mây gặp rất nhiều khó khăn. Từ những bó mây của người dân, một chuỗi thu mua đã hình thành. Ông Hồ Lưu, người đứng ra thu gom mây ở bản Khe Cát, cho biết mỗi ngày ông thu mua từ một đến vài tấn mây.
Sau khi cân, người dân được thanh toán ngay. Khi đủ số lượng, mây được vận chuyển về Đà Nẵng, Khánh Hòa để cung cấp cho các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, bàn ghế, đồ trang trí và nội thất. Từ những sợi dây rừng tưởng chừng bình dị, một dòng chảy kinh tế âm thầm đang nối đại ngàn với thị trường.
Theo ông Chiến, nghề “ăn mây” không chỉ cần sức khỏe mà còn đòi hỏi kinh nghiệm. Người đi rừng phải biết đường đi, hiểu địa hình, nhận biết những khu vực có mây, tránh những nơi hiểm trở, sạt lở để bảo đảm an toàn trong suốt hành trình. Khi đến được nơi có mây, họ phải có kinh nghiệm chọn những cây đủ tuổi khai thác, vừa lấy được những thân mây đạt chất lượng, vừa giữ lại những cây non để rừng tiếp tục sinh sôi cho những mùa sau.

Bà Hồ Thị Thư (50 tuổi, phải) cùng con dâu Hồ Thị Lan kéo mây từ rừng về bản.
Tuy nhiên, tìm được mây mới chỉ là một phần của hành trình. Những thân mây dài, nhiều gai sau khi khai thác phải được bó lại, kéo qua dốc núi, men theo khe suối để đưa ra khỏi rừng. Đây mới là công đoạn nặng nhọc nhất đối với người đi rừng.
Giữ sinh kế dưới tán đại ngàn
Chiều muộn, ở đầu bản Khe Gát, thêm nhiều bước chân từ rừng nối dài trên con đường đất dẫn vào bản. Sau một ngày băng dốc, vượt suối, trên vai người dân là những bó mây, trong gùi là những sản vật vừa thu hái dưới tán đại ngàn. Với đồng bào Bru - Vân Kiều, đó là hành trình mưu sinh đã gắn bó qua nhiều thế hệ, nhưng cũng từ những bước chân ấy, họ nhận ra rừng đang không còn gần như trước.
Ông Hồ Đa Chiến (65 tuổi), một người có hàng chục năm kinh nghiệm với nghề “ăn mây” ở bản Khe Gát, nhớ rằng ngày trước, rừng mây gần hơn rất nhiều. Chỉ cần đi một quãng rừng không quá xa, bà con đã có thể gặp những vạt mây lớn, có khi chỉ vài giờ đã đủ một chuyến mang mây ra khỏi rừng. Nhưng nay, những khu vực từng dày đặc mây đã thưa dần, người đi rừng phải đi sâu hơn, xa hơn, có chuyến mất hơn ba giờ đồng hồ băng dốc, vượt suối mới tìm được nơi có mây.

Người dân xã Trường Sơn tham gia tuần tra, bảo vệ rừng.
Không chỉ cây mây, các sản vật khác dưới tán rừng như mật ong, măng rừng, lá thuốc, nấm… cũng không còn dễ tìm như trước. Những người già trong bản không cho rằng rừng đã cạn kiệt, bởi đại ngàn vẫn còn đó với màu xanh trải dài. Nhưng bằng ký ức của một đời gắn bó với núi rừng, họ nhận ra một thay đổi âm thầm: rừng đang mỏng đi từng ngày.
Cũng theo ông Chiến, người đi rừng nay phải mở rộng phạm vi tìm kiếm, thời gian lao động kéo dài hơn, trong khi giá thu mua vẫn không thay đổi. Còn sức khỏe của những người đã quen với việc băng rừng, vượt suối qua năm tháng thì ngày một giảm sút.

Mật ong rừng, một sản vật "trời cho" của người Bru - Vân Kiều ở xã Trường Sơn.
Sự thu hẹp của những sản vật dưới tán rừng cũng khiến những người sống giữa đại ngàn nhìn lại cách ứng xử của mình với chính nguồn sống đã nuôi dưỡng bao thế hệ. Nhiều già làng, người có uy tín trong cộng đồng Bru - Vân Kiều ở xã Trường Sơn có chung suy nghĩ, rừng nuôi dân bản, nhưng rừng không phải là nguồn tài nguyên vô tận. Nếu chỉ biết lấy mà không biết giữ, rồi sẽ có lúc con cháu không còn gì để dựa vào. Từ nhận thức ấy, cách ứng xử của cộng đồng nơi đây với rừng cũng đang từng bước chuyển biến.
"Nếu trước đây rừng chủ yếu được nhìn như nơi cung cấp nguồn sống, thì nay nhiều người dân đã hiểu rằng muốn duy trì sinh kế lâu dài, trước hết phải bảo vệ cánh rừng đang nuôi mình. Từ nhận thức ấy, bà con đã tích cực tham gia các tổ bảo vệ rừng cộng đồng, phối hợp cùng lực lượng chức năng tuần tra, tuyên truyền cho con cháu không chặt phá cây rừng, không săn bắt động vật quý hiếm"
Ông Phạm Hồng Khánh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Trường Sơn

Nến được làm từ sáp ong.
Theo quy định pháp luật về lâm nghiệp, người dân được khai thác một số loại lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng như mây, tre, nứa; mật ong; lá nón, lá dong; nấm và dược liệu không thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được bảo vệ. Tuy nhiên, việc khai thác phải bảo đảm không làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái, không gây tổn hại đến rừng tự nhiên.
Để hài hòa giữa bảo vệ rừng và duy trì sinh kế cho người dân, lực lượng kiểm lâm Trường Sơn đang phối hợp với chính quyền địa phương, chủ rừng và cộng đồng hướng dẫn bà con khai thác lâm sản phụ đúng quy định. “Chúng tôi tuyên truyền cho người dân khi vào rừng khai thác không chặt phá cây rừng, không hạ đổ cây gỗ, không mang lửa vào rừng và không gây mất an ninh trật tự”, ông Khánh nói.
Giữa đại ngàn Trường Sơn, những bước chân mưu sinh của người Bru - Vân Kiều vẫn ngày ngày nối dài qua những cánh rừng, con suối. Nhưng câu chuyện hôm nay không còn chỉ là lấy được bao nhiêu sản vật từ rừng, mà là làm thế nào để màu xanh ấy còn được giữ lại, để những mùa mây, mùa măng, mùa mật ong tiếp tục trở thành nguồn sinh kế của những bản làng dưới tán đại ngàn.
Thanh Bình
3 giờ trước
30 phút trước
4 giờ trước
14 phút trước
2 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
5 giờ trước