🔍
Chuyên mục: Xã hội

Siết lạm dụng điều trị ung thư tuyến giáp: Bộ Y tế chuyển sang 'đúng người, đúng bệnh'

11 giờ trước
Ngành y tế đang thay đổi chiến lược điều trị ung thư tuyến giáp, từ 'phát hiện nhiều' sang 'điều trị đúng và phù hợp', nhằm chặn tình trạng chỉ định tràn lan. Bộ Y tế sẽ sớm chuẩn hóa phác đồ, xây dựng công cụ kiểm định chuyên môn và ứng dụng AI để kiểm soát chất lượng điều trị, giảm lãng phí và rủi ro cho người bệnh.

04/04/2026 11:50

TS.BS Nguyễn Trọng Khoa

Phát biểu kết luận của TS.BS Nguyễn Trọng Khoa - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế)

Hội thảo hôm nay là một nội dung vừa khoa học vừa mang tính chất xã hội. Đó là vấn đề đánh giá giám định y khoa liên quan đến tổn thương do ung thư tuyến giáp để làm căn cứ chi trả các loại bảo hiểm kinh tế, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm nhân thọ thương mại, vốn đều có liên quan với nhau.

Hội thảo cơ bản đã trả lời được phần lớn các câu hỏi của các nhà chuyên môn cũng như của độc giả theo dõi suốt chương trình. Chương trình được đánh giá là chất lượng, với sự tham gia của các chuyên gia phù hợp, chia sẻ nhiều nội dung thiết thực.

Về định hướng thời gian tới, TS.BS Nguyễn Trọng Khoa nhấn mạnh đây là vấn đề cần được quan tâm đặc biệt, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi chiến lược từ “phát hiện nhanh, phát hiện sớm, phát hiện nhiều” sang “phát hiện đúng, điều trị đúng”.

Để làm được điều đó, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý liên quan đến giám định, trong đó có nội dung sửa đổi quy định về tỷ lệ tổn thương. Mục tiêu là xây dựng khuôn khổ pháp lý phù hợp và cập nhật với thế giới, tránh lãng phí, tránh điều trị quá mức, quản lý và điều trị theo đúng bằng chứng hiện nay.

Lãnh đạo Cục Quản lý Khám, chữa bệnh cũng nhấn mạnh yêu cầu tiếp cận tiến bộ khoa học thế giới, từ y sinh học, điều trị hormone, xạ trị đến các tiến bộ trong chẩn đoán. Nhiều liệu pháp mới như miễn dịch, điều trị đích đang phát triển, tuy nhiên việc tiếp cận phải phù hợp với nguồn lực, không thể áp dụng toàn bộ mà cần lựa chọn trên cơ sở điều kiện thực tế.

Bên cạnh việc ban hành quy định, cần tăng cường giám sát thực thi. Ông đề nghị các chuyên gia xây dựng bộ tiêu chí kiểm định chuyên môn để xác định thế nào là áp dụng phù hợp, thế nào là lạm dụng, từ đó có phản hồi tới các cơ sở, từng bước nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị.

Một nội dung quan trọng khác là hỗ trợ chuyên môn cho tuyến dưới, thu hẹp khác biệt trong tiếp cận chẩn đoán và điều trị giữa các cơ sở. Cần từng bước giảm biên độ biến động trong áp dụng hướng dẫn chuyên môn thông qua đào tạo, y học từ xa và cập nhật xu hướng mới.

Trong lĩnh vực chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị, có thể ứng dụng thêm công nghệ, trong đó có AI, nhằm giảm phụ thuộc hoàn toàn vào yếu tố con người, hướng tới xây dựng kế hoạch điều trị chính xác cho từng cá thể và theo dõi phù hợp ở giai đoạn sau.

Thay mặt Ban tổ chức, TS.BS Nguyễn Trọng Khoa trân trọng cảm ơn các chuyên gia đã chuẩn bị báo cáo chất lượng, các đại biểu tham dự, các nhà tài trợ, đơn vị đồng hành và cơ quan báo chí đã cập nhật, truyền tải thông tin hội thảo tới cộng đồng chuyên môn và độc giả. Ông bày tỏ mong muốn công tác quản lý, điều trị bệnh nhân ung thư tuyến giáp sẽ ngày càng khoa học và chuẩn mực hơn, đồng thời cảm ơn các độc giả đã đặt câu hỏi, góp phần đặt vấn đề không chỉ với giới chuyên môn mà cả với cơ quan quản lý.

04/04/2026 11:48

04/04/2026 11:43

04/04/2026 11:38

report ‘Điểm nghẽn’ chi trả bảo hiểm: Cần thay đổi cách đánh giá tổn thương

Bạn đọc Nguyễn Hồng Nga ( Hưng Yên) hỏi: Làm thế nào đảm bảo quyền lợi công bằng cho người bệnh trong chính sách bảo hiểm

Từ góc nhìn của người bệnh, tôi thấy đây là vấn đề vừa mang tính y khoa, vừa liên quan đến chính sách và bảo hiểm.Vậy trong thời gian tới, các cơ quan quản lý, chuyên gia y tế và doanh nghiệp bảo hiểm có thể phối hợp như thế nào để việc phân loại bệnh và đánh giá tổn thương ngày càng sát thực tế hơn, đảm bảo quyền lợi công bằng cho người bệnh?

Ông Ngô Trung Dũng – Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam:

Liên quan đến câu chuyện ung thư tuyến giáp, thực tế ngành bảo hiểm đã nhận được rất nhiều khiếu nại, kiến nghị từ phía người tham gia bảo hiểm. Đây không phải vấn đề riêng của Việt Nam mà là xu hướng chung trên thế giới.

Các số liệu chuyên môn cũng đã chỉ ra rất rõ: tỷ lệ phát hiện ung thư tuyến giáp gia tăng mạnh trong thời gian qua, có nơi tăng gấp 4-5 lần. Tuy nhiên, phần lớn trong số đó là các trường hợp được chẩn đoán sớm, mức độ nguy cơ thấp. Trong ngành bảo hiểm, chúng tôi cũng có đánh giá tương tự. Ví dụ, ở Hàn Quốc, tỷ lệ này lên tới khoảng 87%, Trung Quốc khoảng 90%. Nghĩa là giữa đánh giá của ngành y tế và ngành bảo hiểm có sự tương đồng khá rõ.

Ông Ngô Trung Dũng – Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam.

Vấn đề lớn đặt ra hiện nay nằm ở cơ chế xác định mức độ tổn thương để chi trả bảo hiểm. Theo quy định trước đây, một số trường hợp ung thư tuyến giáp chỉ được xem xét chi trả khi mức độ tổn thương cơ thể đạt từ 71%-80% trở lên. Điều này dẫn tới nhiều bất cập.

Thứ nhất, về mặt thực tế, ung thư tuyến giáp thường có tiên lượng tốt, người bệnh vẫn có thể sinh hoạt, lao động bình thường. Vì vậy, rất khó đạt đến ngưỡng tổn thương cao như quy định. Hệ quả là nhiều người bệnh dù đã mắc ung thư nhưng lại không đủ điều kiện để nhận chi trả bảo hiểm.

Thứ hai, điều này tạo ra sự thiếu công bằng. Có những bệnh ung thư khác, mức độ nguy hiểm cao hơn, ảnh hưởng nặng nề hơn đến sức khỏe và khả năng lao động, nhưng lại có cơ chế chi trả khác. Trong khi đó, ung thư tuyến giáp dù là ung thư lại bị “lọt” khỏi phạm vi chi trả chỉ vì không đạt ngưỡng tổn thương theo quy định cứng.

Chúng tôi cho rằng cách tiếp cận dựa chủ yếu vào tỷ lệ tổn thương cơ thể là chưa phù hợp với thực tiễn phát triển của y học hiện nay.

Vì vậy, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam đã có nhiều kiến nghị gửi Bộ Y tế và Bộ Tài chính về việc xem xét điều chỉnh. Chúng tôi rất mừng khi tại hội thảo hôm nay, đại diện cơ quan quản lý cũng đã xác nhận đang nghiên cứu sửa đổi các quy định liên quan.

Trong thời gian tới, khi sửa đổi các thông tư, đặc biệt là các quy định về đánh giá mức độ tổn thương, chúng tôi đề xuất cần chuyển dần từ cách tiếp cận “tỷ lệ tổn thương” sang đánh giá “mất chức năng”.

Tức là không chỉ dựa vào chẩn đoán hay tỷ lệ tổn thương cơ thể, mà cần xem xét người bệnh có bị suy giảm chức năng sinh hoạt, lao động hay không, có mất khả năng tạo thu nhập hay không. Đây mới là yếu tố phản ánh đúng bản chất rủi ro mà bảo hiểm cần chi trả.

Nếu bổ sung được tiêu chí đánh giá theo chức năng, hệ thống sẽ công bằng hơn, phù hợp hơn với thực tiễn điều trị hiện đại, đồng thời giảm được các tranh chấp, khiếu nại trên thị trường.

Chúng tôi cũng mong muốn trong quá trình sửa đổi chính sách, cơ quan quản lý sẽ tham vấn thêm ý kiến từ các tổ chức bảo hiểm, để có góc nhìn đa chiều, đảm bảo quy định vừa phù hợp chuyên môn y tế, vừa khả thi trong thực tiễn triển khai.

04/04/2026 11:32

Bạn đọc có nick name là “Gin Lydt” đặt câu hỏi liên quan đến quy định về tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với các thể ung thư tuyến giáp, thể biệt hóa là 81%, trong khi thể chưa biệt hóa chỉ là 71%; chuyên gia có thể chia sẻ thêm về cơ sở chuyên môn cũng như góc nhìn thực tiễn y khoa trong áp dụng hiện nay, đặc biệt đối với các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ?

Trả lời câu hỏi này, TS Nguyễn Trọng Khoa, – Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) cho biết, trong buổi làm việc trước đó giữa Bộ Y tế và đoàn doanh nghiệp thuộc các hiệp hội doanh nghiệp, bao gồm cả các công ty bảo hiểm, vấn đề chi trả quyền lợi cho người bệnh đã được đưa ra thảo luận. Ngay lập tức, Bộ Y tế đã mời các cơ quan chuyên môn, đặc biệt giao cho Viện Giám định Y khoa của Bệnh viện Bạch Mai tiến hành tổng hợp và lấy ý kiến các chuyên gia đa chuyên ngành.

TS Nguyễn Trọng Khoa

Việc rà soát và lấy ý kiến này nhằm mục tiêu điều chỉnh Thông tư 28 về phân loại và tỷ lệ tổn thương cơ thể, từ đó tạo ra một căn cứ khoa học, khách quan và chính xác cho việc chi trả bảo hiểm y tế cũng như bảo hiểm nhân thọ. Các chuyên gia tại hội nghị đều đã tìm được tiếng nói chung, thống nhất về dự thảo và đệ trình đề xuất lên Bộ Y tế.

Bộ Y tế sẽ tiếp thu các cơ sở khoa học từ phía những nhà chuyên môn để đưa ra các điều chỉnh phù hợp trong thời gian tới. Đáng chú ý, không chỉ riêng bệnh ung thư tuyến giáp, khoảng một chục vấn đề thuộc các loại ung thư và bệnh lý khác cũng đã được các chuyên gia y tế rà soát và xem xét lại nhằm điều chỉnh tỷ lệ tổn thương cũng như mức chi trả bảo hiểm.

Nhằm giúp người dân sớm được hưởng những quyền lợi chính đáng, Bộ Y tế đang có kế hoạch đẩy nhanh tiến độ ban hành. Cụ thể, thay vì trình các thông tư đơn lẻ, cơ quan này dự kiến sẽ áp dụng hình thức sửa đổi nhiều thông tư cùng một lúc để rút ngắn thời gian và đảm bảo tiến độ nhanh nhất có thể.

Những định hướng chính sách này được công bố tại hội nghị về ung thư tuyến giáp – căn bệnh đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ phía người dân. Ông đánh giá, hội thảo ngày hôm nay mang đến nhiều thông tin ý nghĩa, vừa mang tính chất hội thảo khoa học chuyên sâu vừa là diễn đàn chia sẻ với cộng đồng.

Đồng hành cùng ngành Y tế trong sự kiện này là Báo Tiền Phong, đơn vị đã có nhiều năm phối hợp trong các chương trình y tế lớn như chương trình "Chủ nhật Đỏ" hay hội thảo về bệnh đột quỵ diễn ra vào năm ngoái. Toàn bộ nội dung của hội thảo ngày hôm nay, được Báo Tiền Phong tường thuật trực tuyến, các phóng viên đưa tin trực tiếp và livestream trên các nền tảng báo chí. Thông qua hình thức này, những thông tin khoa học cập nhật, các định hướng quản lý và chính sách y tế mới nhất đã được truyền tải rộng rãi, giúp người dân có góc nhìn rõ nét về thực trạng bệnh lý hiện nay.

04/04/2026 11:27

Bạn đọc Đinh Liên Phương đặt câu hỏi: Theo các chuyên gia, cần những giải pháp nào để từng bước tăng cường sự thống nhất trong chẩn đoán, đánh giá tổn thương và điều trị ung thư tuyến giáp tại Việt Nam, tiệm cận với thông lệ quốc tế?

TS.BSNT. Nguyễn Thị Phương- Khoa Y học hạt nhân-BV Trung ương Quân đội 108:

Theo phân loại y khoa cập nhật năm 2022, ung thư tuyến giáp được phân chia thành ba nhóm chính: ung thư tuyến giáp thể biệt hóa, thể kém biệt hóa và thể không biệt hóa. Trong đó, ung thư tuyến giáp thể biệt hóa lại bao gồm nhiều dạng khác nhau như thể nhú, thể nang và biệt hóa độ cao.

TS.BSNT. Nguyễn Thị Phương

Ngay cả trong ung thư tuyến giáp thể nhú cũng tồn tại rất nhiều biến thể với tiên lượng hoàn toàn trái ngược nhau. Những bệnh nhân mắc ung thư tuyến giáp thể nhú mang biến thể cổ điển thường có tiên lượng tốt. Tuy nhiên, người bệnh cần đặc biệt lưu ý với một số biến thể mang tính chất ác tính hơn và có tiên lượng xấu như: thể tế bào cao, tế bào trụ, biến thể xơ hóa lan tỏa hoặc biến thể đặc.

Để chẩn đoán tình trạng ung thư tuyến giáp như thế nào là nặng, các bác sĩ không chỉ nhìn vào tên gọi của bệnh mà phải dựa trên hệ thống phân tầng nguy cơ. Những bệnh nhân mắc ung thư tuyến giáp thể nhú hoặc thể biệt hóa nhưng được xếp vào nhóm có "nguy cơ cao" sẽ cần được áp dụng các phác đồ điều trị tích cực và mạnh mẽ hơn so với những bệnh nhân thuộc nhóm phân tầng nguy cơ thấp.

Khái niệm "khỏi" trong ung thư tuyến giáp thường được các bác sĩ đặt trong ngoặc kép, vì đối với ung thư tuyến giáp thể nhú hoặc các biến thể có tiên lượng tốt, tình trạng bệnh vẫn có thể duy trì ổn định trong một thời gian khá dài ngay cả khi người bệnh không điều trị đặc hiệu mà chỉ áp dụng phương pháp theo dõi tích cực. Thậm chí, một nghiên cứu theo dõi bệnh nhân ung thư tuyến giáp có nguy cơ thấp kéo dài tới 20 năm đã ghi nhận những con số rất khả quan: chỉ có khoảng 30% số ca bệnh có dấu hiệu tiến triển và nguy cơ tử vong do bệnh chỉ nằm ở mức 10 - 15%.

Những dữ liệu trên cho thấy, dù mang mác "ung thư", nhưng nếu được phân tầng đúng và điều trị phù hợp, người bệnh hoàn toàn có hy vọng sống khỏe mạnh và ổn định lâu dài.

04/04/2026 11:20

04/04/2026 11:15

report Giải mã gen khối u: Chìa khóa điều trị chính xác

Tham luận tại Hội thảo, Ths.BS Đỗ Thành Công -Phó trưởng Khoa Điều trị kỹ thuật cao, BV Nội tiết T.Ư cho rằng, cá thể hóa trong điều trị ung thư tuyến giáp là một xu hướng tất yếu và không thể đảo ngược. Trước đây, cách tiếp cận của mình tương đối đồng nhất, tức là gần như bệnh nhân nào cũng được điều trị theo một phác đồ chung: phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp, sau đó điều trị iod phóng xạ. Nhưng thực tế lâm sàng cho thấy cách làm đó không còn phù hợp trong nhiều trường hợp.

Ths.BS Đỗ Thành Công

Chúng tôi gặp rất nhiều tình huống mà cùng một loại ung thư, cùng một thể bệnh, thậm chí kích thước u tương đương nhau, nhưng diễn tiến lại hoàn toàn khác. Có bệnh nhân u rất nhỏ nhưng đã di căn hạch nhiều, thậm chí di căn xa; trong khi có người u lớn nhưng lại tiến triển chậm, tiên lượng tốt. Những khác biệt này nếu chỉ dựa vào yếu tố lâm sàng hay giải phẫu bệnh thông thường thì không thể lý giải đầy đủ được.

Chính vì vậy, hiện nay mình phải đi sâu hơn vào mức độ sinh học phân tử. Các dấu ấn như BRAF, TERT, RAS hay các gen dung hợp đóng vai trò rất quan trọng. Nó giúp mình phân tầng nguy cơ chính xác hơn, hiểu được bản chất sinh học của khối u, từ đó định hướng điều trị tốt hơn.

Ví dụ, với những trường hợp có đột biến nguy cơ cao, mình sẽ cân nhắc phẫu thuật triệt để hơn, có thể cắt toàn bộ tuyến giáp và xử trí tích cực ngay từ đầu. Ngược lại, với nhóm nguy cơ thấp, không có các đột biến nguy hiểm, thì xu hướng hiện nay là điều trị bảo tồn, tránh can thiệp quá mức, vì nếu mình làm quá tay thì nguy cơ biến chứng cũng rất đáng kể.

Ngoài ra, các thông tin phân tử còn giúp mình dự đoán được đáp ứng điều trị, đặc biệt là với iod phóng xạ. Thực tế có một tỷ lệ bệnh nhân sẽ xuất hiện tình trạng kháng iod phóng xạ trong quá trình điều trị. Khi đó, nếu không có thêm công cụ đánh giá, mình sẽ rất khó xử trí.

Nhưng khi hiểu rõ cơ chế phân tử, đặc biệt là cơ chế mất biệt hóa của tế bào ung thư, thì mình có thể mở ra các hướng điều trị mới, ví dụ như các liệu pháp nhắm trúng đích hoặc các chiến lược tái biệt hóa để tăng khả năng đáp ứng điều trị. Đây là một bước tiến rất quan trọng.

Một điểm nữa là việc đưa xét nghiệm sinh học phân tử vào thực hành lâm sàng đã giúp thay đổi khá nhiều cách tiếp cận. Nó giúp giảm tình trạng điều trị quá mức, tức là những ca không cần thiết phải mổ rộng hay điều trị tích cực thì mình tránh được. Đồng thời cũng giúp phát hiện những trường hợp nguy cơ cao để điều trị sớm và đầy đủ hơn.

Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam hiện nay, việc triển khai vẫn còn một số khó khăn, đặc biệt là chi phí xét nghiệm còn cao và chưa phổ biến rộng rãi. Nhiều xét nghiệm gen hiện nay vẫn là gánh nặng với người bệnh, nên việc áp dụng, nhất là trước phẫu thuật, còn hạn chế.

Trong thời gian tới, khi công nghệ phát triển hơn, chi phí giảm xuống, thì cá thể hóa điều trị sẽ trở thành tiêu chuẩn. Khi đó, mục tiêu của mình không chỉ là điều trị khỏi bệnh, mà còn là điều trị đúng mức tức là đúng người, đúng nguy cơ, đúng phương pháp để tối ưu hóa hiệu quả và chất lượng sống cho bệnh nhân.

04/04/2026 11:03

report Đột phá chẩn đoán hình ảnh: “mắt thần” dẫn đường điều trị

Tại hội thảo, TS.BS Trịnh Tú Tâm - Trưởng khoa Chẩn đoán hình ảnh và Điện Quang can thiệp, BVĐK Hồng Ngọc Phúc Trường Minh cho biết, ung thư tuyến giáp nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng có thể giúp người bệnh sống lâu, chất lượng sống tốt. Trong đó, chẩn đoán hình ảnh giữ vai trò xuyên suốt từ phát hiện, phân tầng nguy cơ đến định hướng điều trị và theo dõi tái phát. Siêu âm hiện là phương tiện đầu tay nhờ không dùng tia xạ, cho phép đánh giá chi tiết nhân giáp. Dựa trên hệ thống TIRADS, bác sĩ phân loại nguy cơ ác tính qua các dấu hiệu như giảm âm, vi vôi hóa, bờ không đều… để quyết định theo dõi hay chọc hút kim nhỏ (FNA).

TS.BS Trịnh Tú Tâm - Trưởng khoa Chẩn đoán hình ảnh và Điện Quang can thiệp, BVĐK Hồng Ngọc Phúc Trường Minh.

Theo bác sĩ Tâm, siêu âm cũng giúp phát hiện hạch di căn cổ và dẫn đường chính xác cho các thủ thuật, đồng thời hỗ trợ lập bản đồ hạch trong phẫu thuật, giảm nguy cơ bỏ sót tổn thương. Tuy nhiên, phương pháp này còn hạn chế với các tổn thương nằm sâu hoặc bị che khuất. Trong những trường hợp đó, CT và MRI là công cụ bổ trợ quan trọng. CT giúp đánh giá khối u xâm lấn và di căn trung thất, còn MRI vượt trội trong khảo sát mô mềm và an toàn cho phụ nữ mang thai. Hai kỹ thuật này đóng vai trò quan trọng trong phân giai đoạn và lập kế hoạch phẫu thuật. Sau điều trị, PET/CT hỗ trợ phát hiện tái phát, di căn xa và đánh giá đáp ứng điều trị, đặc biệt với các trường hợp không bắt iod phóng xạ.

Bên cạnh đó, sự kết hợp giữa trí tuệ nhân tạo (AI) và siêu âm đàn hồi mô đang nâng cao độ chính xác chẩn đoán, giúp tăng độ nhạy và giảm đáng kể các chỉ định chọc hút không cần thiết. Nhờ “mắt thần” của chẩn đoán hình ảnh, nhiều bệnh nhân đủ điều kiện có thể điều trị bằng các phương pháp ít xâm lấn như đốt sóng cao tần hoặc vi sóng, tránh đại phẫu. Hiện nay, nhiều bệnh viện đã xây dựng mô hình đa chuyên khoa trong điều trị ung thư tuyến giáp. Sự đồng hành liên tục của chẩn đoán hình ảnh từ tầm soát đến theo dõi được xem là chìa khóa giúp kéo dài tuổi thọ và bảo toàn chất lượng sống cho người bệnh.

04/04/2026 10:34

report Cá thể hóa liệu pháp hormone sau mổ ung thư tuyến giáp: Trụ cột để kiểm soát bệnh an toàn – hiệu quả

TS.BS Nguyễn Thị Lan Hương – Phó Viện trưởng Viện Y học Phóng xạ & Ung bướu Quân đội đã nhấn mạnh vai trò trung tâm của liệu pháp hormone levothyroxine trong quản lý bệnh nhân ung thư tuyến giáp sau phẫu thuật.

Theo TS. Lan Hương, mục tiêu của điều trị hormone không chỉ là thay thế lượng hormone thiếu hụt mà còn ức chế TSH – yếu tố trực tiếp kích thích tế bào ung thư tăng sinh. Các nghiên cứu sinh học phân tử cho thấy TSH hoạt hóa các đường tín hiệu như MAPK/ERK, PI3K/AKT, thúc đẩy sự tồn tại và phát triển của tế bào ung thư biệt hóa.

TS Nguyễn Thị Lan Hương - Phó Viện trưởng Viện Y học phóng xạ và Ung bướu Quân đội

Tuy nhiên, TS. BS Hương cho biết, những bằng chứng mới từ các nghiên cứu quy mô lớn trong giai đoạn 2024–2025 đã làm thay đổi cách tiếp cận truyền thống. Việc ức chế TSH sâu trước đây từng áp dụng cho đa số bệnh nhân, nay được chứng minh không đem lại lợi ích sống còn ở nhóm nguy cơ thấp và trung bình. Ngược lại, ức chế quá mức có thể gây hại, đặc biệt ở người cao tuổi, bệnh nhân có bệnh tim hoặc phụ nữ sau mãn kinh – những đối tượng dễ gặp rung nhĩ, loãng xương và rối loạn nhịp khi TSH quá thấp.

Hướng dẫn ATA 2025 vì vậy chuyển sang ức chế có chọn lọc, với mục tiêu TSH khác nhau:

Nguy cơ cao hoặc còn bệnh <0,1 mU/L

Nguy cơ trung bình 0,1–0,5 mU/L

Nguy cơ thấp & cắt thùy 0,5–2,0 mU/L, không cần ức chế

Việc điều chỉnh liều levothyroxine được xem là thách thức lớn do đây là thuốc có cửa sổ điều trị hẹp. Chỉ một thay đổi nhỏ trong liều hoặc trong khả năng hấp thu (do PPI, bệnh dạ dày, tương tác thuốc) đều có thể khiến TSH biến động mạnh. TS.BS Lan Hương nhấn mạnh sự nguy hiểm của thói quen bẻ viên thuốc – dễ làm sai lệch liều. Các tổ chức lớn như ATA, AACE, ETA đều khuyến cáo bệnh nhân nên dùng cùng một loại levothyroxine trong toàn bộ quá trình điều trị để tránh dao động sinh khả dụng.

Dạng thuốc đa hàm lượng (từ 25 đến 150 mcg) giúp bác sĩ chỉnh liều chính xác, phù hợp với nhu cầu cá thể hóa ngày càng cao. TS.BS Hương nhấn mạnh: “Điều trị hormon sau mổ ung thư tuyến giáp không phải là việc uống thuốc đơn thuần, mà là một quá trình điều chỉnh tinh tế, liên tục và được thiết kế riêng cho từng bệnh nhân để đảm bảo kiểm soát bệnh tối ưu.”

04/04/2026 10:16

04/04/2026 10:06

report Chuyển từ “cắt toàn bộ tuyến giáp” sang tiếp cận cá thể hóa

Cập nhật chuyên đề về bướu giáp nhân và ung thư tuyến giáp TS.BS. Dương Đức Bình (Bệnh viện K Tân Triều) nhấn mạnh thực trạng gia tăng nhanh chóng số ca phát hiện bướu giáp nhân, chủ yếu nhờ sự phổ biến của siêu âm độ phân giải cao. Tuy nhiên, thách thức hiện nay không còn nằm ở việc phát hiện, mà là làm sao phân biệt chính xác tổn thương lành tính và ác tính, từ đó tránh tình trạng chẩn đoán và điều trị quá mức.

TS.BS. Dương Đức Bình (Bệnh viện K Tân Triều)

Trong bối cảnh đó, các hệ thống phân loại hiện đại như ACR TI-RADS trong chẩn đoán hình ảnh và Bethesda 2023 trong tế bào học đóng vai trò cốt lõi. Những công cụ này giúp chuẩn hóa đánh giá nguy cơ, đưa ra chỉ định chọc hút kim nhỏ (FNA) dựa trên kích thước và đặc điểm tổn thương, đồng thời tối ưu hóa chiến lược xử trí đối với các nhóm bất định. Đặc biệt, sự phát triển của xét nghiệm phân tử đã góp phần quan trọng trong việc giảm tỷ lệ phẫu thuật chẩn đoán không cần thiết, khi có thể xác định nguy cơ ác tính thông qua các đột biến gen đặc hiệu.

Chuyển từ “cắt toàn bộ tuyến giáp” sang tiếp cận cá thể hóa

TS Bình cho biết: ở khía cạnh điều trị, xu hướng nổi bật hiện nay là chuyển từ “cắt toàn bộ tuyến giáp” sang tiếp cận cá thể hóa. Dẫn các khuyến cáo mới nhất từ cập nhật điều trị theo guidelines thế giới, TS Bình cho biết, nhiều trường hợp ung thư tuyến giáp biệt hóa giai đoạn sớm có thể chỉ cần cắt thùy thay vì cắt toàn bộ, giúp giảm biến chứng, bảo tồn chức năng tuyến giáp và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh. Đồng thời, chiến lược theo dõi chủ động (active surveillance) cũng đang được áp dụng cho một số trường hợp vi ung thư nguy cơ thấp.

Trong lĩnh vực y học hạt nhân, TS Bình cho biết, việc sử dụng I ốt 131 (I-131) hiện nay không còn mang tính đại trà mà được chỉ định dựa trên phân tầng nguy cơ. Bệnh nhân nguy cơ thấp thường không cần điều trị I-131, trong khi nhóm nguy cơ trung bình và cao sẽ được cân nhắc liều lượng phù hợp nhằm tối ưu hiệu quả và giảm tác dụng phụ.

Đáng chú ý, khoảng 5 - 15% bệnh nhân có thể tiến triển thành ung thư tuyến giáp kháng I-131 – một thách thức lớn trong điều trị. Với nhóm này, các liệu pháp nhắm trúng đích, đặc biệt là các thuốc ức chế tyrosine kinase, đang mở ra hướng điều trị mới, dựa trên phân tích đột biến gen như BRAF hay RET để cá thể hóa phác đồ.

TS Bình nhấn mạnh đến vai trò của cách tiếp cận đa chuyên khoa trong quản lý ung thư tuyến giáp. Việc phối hợp giữa chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh, phẫu thuật và y học hạt nhân trong các Hội đồng Ung thư được xem là chìa khóa để đưa ra quyết định điều trị tối ưu cho từng bệnh nhân.

04/04/2026 09:52

report Điều trị ung thư tuyến giáp: Tối ưu hóa bằng cá thể hóa và phẫu thuật xâm lấn tối thiểu

Ths.BS Nguyễn Xuân Quang - Trưởng khoa Tai mũi họng và phẫu thuật Đầu cổ, BVĐK Hồng Ngọc Phúc Trường Minh cho rằng: Ung thư tuyến giáp là loại ung thư nội tiết phổ biến nhất, thường gặp ở phụ nữ trẻ và có tiên lượng rất tốt với tỷ lệ sống cao. Tuy nhiên, trong khoảng 20 năm qua (2000 - 2020) tại Mỹ, tỷ lệ mắc bệnh đã tăng gấp 5 lần trong khi tỷ lệ tử vong gần như không thay đổi.

Phần lớn sự gia tăng này (70 - 80%) đến từ chẩn đoán quá mức, nhưng vẫn có khoảng 20 - 30% là gia tăng thực sự do các yếu tố như phơi nhiễm bức xạ, rối loạn chuyển hóa, dinh dưỡng, lối sống và môi trường. Nghịch lý này đặt ra thách thức lớn trong y khoa về việc tránh điều trị quá mức ở nhóm nguy cơ thấp, đồng thời vẫn đảm bảo kiểm soát hiệu quả các trường hợp nguy cơ cao.

Ths.BS Nguyễn Xuân Quang - Trưởng khoa Tai mũi họng và phẫu thuật Đầu cổ, BVĐK Hồng Ngọc Phúc Trường Minh

Trong bối cảnh đó, chẩn đoán ung thư tuyến giáp đã có bước tiến từ tế bào học sang sinh học phân tử. Không chỉ dừng lại ở siêu âm hay chọc hút tế bào kim nhỏ (FNA), các kỹ thuật hiện đại còn cho phép phân nhóm nguy cơ và thực hiện xét nghiệm gen ngay trên mẫu tế bào, giúp định hướng chiến lược điều trị từ sớm.

Dù việc siêu âm sàng lọc đại trà vẫn còn nhiều tranh cãi và chưa được khuyến cáo rộng rãi do tốn kém nguồn lực, nhưng ở góc độ cá nhân, kiểm tra định kỳ vẫn có thể giúp phát hiện bệnh sớm, tránh những can thiệp nặng nề ở giai đoạn muộn.

Xu hướng điều trị hiện nay nhấn mạnh cá thể hóa, trong đó theo dõi chủ động đang dần thay thế tư duy phẫu thuật ngay lập tức ở nhiều trường hợp. Với ung thư tuyến giáp thể nhú kích thước nhỏ, không xâm lấn hay di căn, việc theo dõi dài hạn cho thấy tỷ lệ tử vong gần như bằng 0, trong khi chỉ khoảng 8 - 15% bệnh nhân cần chuyển sang phẫu thuật sau thời gian theo dõi. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc trì hoãn phẫu thuật từ 5 - 10 năm không làm ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị hay phạm vi can thiệp sau này, đặc biệt có ý nghĩa đối với bệnh nhân lớn tuổi.

Khi phẫu thuật là cần thiết, mục tiêu không chỉ là loại bỏ khối u mà còn phải bảo tồn tối đa chức năng và đảm bảo thẩm mỹ. Thay vì cắt toàn bộ tuyến giáp một cách máy móc, nhiều trường hợp có thể chỉ cần cắt thùy tuyến giáp nếu khối u nhỏ, đơn ổ và chưa xâm lấn.

Việc sinh thiết tức thì trong mổ giúp bác sĩ đánh giá chính xác mức độ bệnh để quyết định phạm vi can thiệp phù hợp. Bên cạnh đó, các kỹ thuật mổ nội soi tiếp cận từ xa, đặc biệt là qua đường miệng, giúp loại bỏ hoàn toàn sẹo vùng cổ, đồng thời đảm bảo hiệu quả điều trị và rút ngắn thời gian hồi phục.

Các công nghệ hỗ trợ hiện đại như theo dõi thần kinh liên tục (NIM), huỳnh quang ICG hay dao năng lượng siêu âm cũng góp phần nâng cao độ an toàn và chính xác trong phẫu thuật.

Có thể thấy, điều trị ung thư tuyến giáp đang bước vào một kỷ nguyên mới, trong đó cá thể hóa trở thành nguyên tắc cốt lõi. Sự kết hợp giữa chẩn đoán đa chiều, theo dõi chủ động và phẫu thuật xâm lấn tối thiểu không chỉ giúp tránh điều trị quá mức mà còn tối ưu hóa chất lượng sống cho người bệnh.

04/04/2026 09:20

04/04/2026 09:13

report Can thiệp đúng – đủ – chính xác, giúp bệnh nhân sống lâu và khỏe

TS.BS Nguyễn Thị Phương - Khoa Y học hạt nhân – BV Trung ương Quân đội 108 trình bày tham luận tại hội thảo đã cập nhật toàn diện về thực trạng và xu hướng điều trị ung thư tuyến giáp thể nhú cho rằng, đây là thể ung thư tuyến giáp phổ biến nhất, chiếm phần lớn ca bệnh tại Việt Nam và thế giới, nhưng có tiên lượng rất tốt khi được phát hiện sớm. Dẫn từ dữ liệu SEER và nhiều phân tích gần đây, TS Phương khẳng định: tỷ lệ mắc bệnh tiếp tục tăng, song tỷ lệ tử vong vẫn ổn định ở mức thấp. Điều này phản ánh vai trò quan trọng của chẩn đoán sớm và sự tiến bộ của các phương pháp đánh giá nguy cơ.

TS.BS Nguyễn Thị Phương - Khoa Y học hạt nhân – BV Trung ương Quân đội 108 trình bày tham luận tại hội thảo

Trong chẩn đoán, siêu âm tuyến giáp là vũ khí chủ lực, cho phép phân tầng nguy cơ dựa trên hệ thống TI‑RADS với độ chính xác cao. Khi nhân có dấu hiệu nghi ngờ, FNA được chỉ định để xác định bản chất tế bào học theo hệ thống Bethesda. Bên cạnh đó, xét nghiệm phân tử như BRAF, RAS, RET/PTC, TERT đóng vai trò ngày càng quan trọng, đặc biệt ở nhóm tổn thương rơi vào “vùng xám”. Những chỉ dấu này giúp bác sĩ quyết định chính xác hơn giữa phẫu thuật, theo dõi hay can thiệp tối thiểu.

Một điểm thay đổi lớn được TS.BS Phương nhấn mạnh là theo dõi tích cực (Active Surveillance) – phương pháp đang trở thành xu hướng tại Nhật Bản, Hàn Quốc và được ATA 2025 đưa vào khuyến cáo chính thức cho các khối u nhỏ ≤1 cm, không xâm lấn, không di căn hạch. Dữ liệu cho thấy, chỉ một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 6% khối u) có tiến triển cần can thiệp. Điều này giúp tránh nhiều ca phẫu thuật không cần thiết, giảm gánh nặng điều trị và bảo vệ chất lượng sống của người bệnh.

Ở nhóm cần điều trị, phẫu thuật đang đi theo hướng giảm mức độ can thiệp. Cắt thùy tuyến giáp được ưu tiên ở nhóm nguy cơ thấp, trong khi cắt toàn bộ chỉ dành cho những trường hợp nguy cơ trung bình – cao hoặc tổn thương phức tạp. Điều trị I‑131 cũng chuyển từ “dùng rộng rãi” sang “dùng có chọn lọc”, tập trung vào nhóm nguy cơ cao, bệnh tồn dư hoặc di căn xa. Cuối cùng, liệu pháp hormone được cá thể hóa theo từng mức nguy cơ thay vì ức chế sâu cho tất cả bệnh nhân như trước đây.

Bác sĩ Phương khẳng định: điều trị ung thư tuyến giáp thể nhú hiện đại không nằm ở can thiệp nhiều, mà ở việc can thiệp đúng – đủ – chính xác, nhằm giúp bệnh nhân sống lâu, sống khỏe và tránh các điều trị không cần thiết.

04/04/2026 09:00

report Điều trị ung thư tuyến giáp: Giảm can thiệp không cần thiết

Mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 6.100–6.200 ca mắc mới ung thư tuyến giáp, tỷ lệ sống trên 90% nếu phát hiện sớm nhưng số ca bệnh đang tăng nhanh trong 20 năm qua. Trước nguy cơ chẩn đoán và điều trị quá mức, Bộ Y tế xác định ưu tiên quản lý hợp lý, không sàng lọc đại trà, chuẩn hóa phân tầng nguy cơ và giảm can thiệp không cần thiết.

Top 10 ung thư phổ biến, đặc biệt ở nữ giới

TS.BS Nguyễn Trọng Khoa – Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) cho biết, những năm gần đây, ung thư tuyến giáp đang trở thành một vấn đề nổi lên trong hệ thống y tế, không phải vì tỷ lệ tử vong cao, mà vì sự gia tăng nhanh chóng về số ca mắc và những thách thức trong quản lý hợp lý.

Theo số liệu GLOBOCAN 2022, Việt Nam ghi nhận khoảng 6.100–6.200 ca mắc mới ung thư tuyến giáp mỗi năm. Số ca tử vong khoảng 850–900 trường hợp/năm. Tỷ lệ mắc chuẩn hóa khoảng 3,4/100.000 dân.

TS.BS Nguyễn Trọng Khoa – Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế)

Đáng chú ý, ung thư tuyến giáp đứng trong top 10 ung thư phổ biến, đặc biệt ở nữ giới. Tỷ lệ nữ mắc bệnh cao gấp khoảng 3–4 lần nam giới. Tuy nhiên, tỷ lệ sống 5 năm trên 90% nếu phát hiện sớm.

Xu hướng đáng lưu ý là tỷ lệ mắc tăng nhanh trong 20 năm qua. Ví dụ tại TP.HCM, tăng từ 2,4 lên 7,5/100.000 dân (1996–2015), với tốc độ tăng trung bình khoảng 8,7%/năm. Đây là một trong những mức tăng nhanh nhất trong các loại ung thư.

Khác với các ung thư như gan, phổi hay dạ dày, ung thư tuyến giáp có những đặc điểm rất đặc biệt. Tỷ lệ mắc tăng nhanh nhưng tử vong thấp, tử vong chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng tử vong ung thư và đây là ung thư có tiên lượng tốt nhất trong nhiều loại ung thư.

Bên cạnh đó là nguy cơ “chẩn đoán quá mức” (overdiagnosis). Gia tăng sử dụng siêu âm, CT, MRI dẫn tới phát hiện nhiều u nhỏ, tiến triển chậm, nhiều trường hợp không cần điều trị ngay. Theo các nghiên cứu quốc tế, sự gia tăng tỷ lệ mắc chủ yếu do tăng phát hiện, không phải tăng thực sự bệnh lý. Ví dụ, tại Hàn Quốc, chỉ trong vòng 10 năm, tỷ lệ chẩn đoán ung thư tuyến giáp đã tăng 15 lần với hơn 40.000 người được phát hiện, tuy nhiên, không có khác biệt về số tử vong.

Ngoài ra còn có nguy cơ điều trị quá mức với tỷ lệ phẫu thuật cao, kể cả với u nhỏ dưới 1 cm, gia tăng chi phí y tế và gánh nặng hệ thống, ảnh hưởng chất lượng sống người bệnh.

Trong thực tế triển khai, siêu âm tuyến giáp được thực hiện rộng rãi trong khám sức khỏe định kỳ. Tỷ lệ phát hiện nhân giáp cao, từ 19–68% dân số có nhân giáp, tuy nhiên chỉ 3–7% là ung thư.

TS.BS Nguyễn Trọng Khoa – Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế)

Điều này dẫn đến tăng số ca sinh thiết, phẫu thuật không cần thiết, áp lực lên hệ thống bệnh viện tuyến trên và gia tăng chi phí BHYT.

Tránh nguy cơ chẩn đoán, điều trị quá mức

Trước bối cảnh đó, Bộ Y tế xác định rõ: ung thư tuyến giáp không phải là ưu tiên giảm tử vong, mà là ưu tiên quản lý hợp lý, tránh lạm dụng y tế. Cần chuyển từ “Phát hiện càng nhiều càng tốt” sang “Phát hiện đúng – điều trị đúng – quản lý phù hợp”.

Các định hướng chiến lược trọng tâm được xác định rõ. Thứ nhất, không triển khai sàng lọc đại trà, không siêu âm tuyến giáp đại trà cho người không triệu chứng, chỉ sàng lọc cho nhóm nguy cơ cao. Lý do là nguy cơ chẩn đoán quá mức, gia tăng can thiệp không cần thiết và không cải thiện tử vong.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình chẩn đoán, áp dụng phân loại TIRADS trong siêu âm, chuẩn hóa chọc hút tế bào (FNA) – Bethesda và phân tầng nguy cơ rõ ràng, nhằm mục tiêu giảm chỉ định sinh thiết và phẫu thuật không cần thiết.

Thứ ba, cá thể hóa điều trị theo nguy cơ. Với nhóm nguy cơ thấp, theo dõi tích cực (active surveillance), không phẫu thuật ngay. Với nhóm nguy cơ trung bình – cao, phẫu thuật hợp lý và iod phóng xạ có chỉ định. Đây là thay đổi lớn trong tư duy điều trị.

Thứ tư, kiểm soát chỉ định phẫu thuật. Hiện nay, tỷ lệ phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại một số cơ sở còn cao. Định hướng là giảm phẫu thuật không cần thiết và chuẩn hóa chỉ định mổ.

Thứ năm, tăng cường quản lý lâu dài như bệnh mạn tính. Ung thư tuyến giáp cần được quản lý như bệnh mạn tính có kiểm soát, bao gồm theo dõi thyroglobulin, siêu âm định kỳ và điều chỉnh hormone.

Thứ sáu, phát triển hệ thống đa chuyên khoa (MDT), kết hợp ung bướu, nội tiết, y học hạt nhân và giải phẫu bệnh, nhằm đảm bảo quyết định điều trị chính xác.

Thứ bảy, tăng cường năng lực tuyến dưới thông qua đào tạo siêu âm, FNA, quản lý theo dõi sau điều trị và giảm quá tải tuyến trung ương.

Thứ tám, kiểm soát lạm dụng dịch vụ y tế, trong đó kiểm soát chỉ định siêu âm đại trà, kiểm soát chỉ định xét nghiệm và điều trị, gắn với cải cách thanh toán BHYT.

Trong thời gian tới, Bộ Y tế định hướng giảm tỷ lệ phẫu thuật không cần thiết, giảm chỉ định siêu âm tràn lan, chuẩn hóa 100% cơ sở ung bướu áp dụng phân tầng nguy cơ, xây dựng hướng dẫn quốc gia cập nhật theo quốc tế và tăng tỷ lệ quản lý ngoại trú, theo dõi dài hạn.

TS.BS Nguyễn Trọng Khoa nhấn mạnh, ung thư tuyến giáp là một ví dụ điển hình cho thách thức của y học hiện đại: không phải là bệnh gây tử vong cao nhưng lại có nguy cơ bị chẩn đoán và điều trị quá mức. Do đó, chiến lược đúng không phải là phát hiện càng nhiều càng tốt, mà là phát hiện đúng, điều trị hợp lý, tránh can thiệp không cần thiết.

Theo ông, ngành y tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng, từ điều trị sang quản lý bệnh mạn tính, từ can thiệp nhiều sang can thiệp hợp lý, từ số lượng sang chất lượng. Ung thư tuyến giáp chính là một trong những lĩnh vực tiên phong cho chuyển đổi này.

Lãnh đạo Cục Quản lý Khám, chữa bệnh bày tỏ tin tưởng, với sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, các cơ sở y tế và cộng đồng chuyên gia, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng được một mô hình quản lý ung thư tuyến giáp hiệu quả, nhân văn và bền vững.

04/04/2026 08:45

report Đưa ra những biện pháp điều trị, chính sách có lợi cho người bệnh.

04/04/2026 08:35

report Nâng cao hiệu quả điều trị ung thư

Phát biểu khai mạc của Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến - Phó Tổng biên tập Báo Tiền Phong

Theo thống kê của Bộ Y tế, mỗi năm Việt Nam ghi nhận hơn 180.000 ca mắc ung thư mới và trên 120.000 ca tử vong. Ung thư hiện là nguyên nhân gây tử vong sớm đứng thứ hai, chỉ sau các bệnh tim mạch.

Mặc dù những năm gần đây, y học Việt Nam đã có nhiều tiến bộ đáng kể, nhiều kĩ thuật điều trị ung thư đã tiệm cận với trình độ khu vực và thế giới, mang lại kết quả tích cực, song thực tế đáng lo ngại là phần lớn người bệnh vẫn được phát hiện ở giai đoạn muộn. Điều này không chỉ làm giảm cơ hội điều trị hiệu quả, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tuổi thọ và chất lượng sống của người bệnh.

Trong bối cảnh đó, việc cập nhật, ứng dụng các tiến bộ y học hiện đại, đặc biệt là các liệu pháp điều trị chính xác, cá thể hóa theo từng người bệnh, đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với hệ thống y tế.

Đối với ung thư tuyến giáp - một trong những loại ung thư có tiên lượng tốt nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng hướng người bệnh hoàn toàn có thể sống lâu dài với chất lượng cuộc sống gần như bình thường. Tuy nhiên, thực tế lâm sàng cho thấy vẫn còn không ít thách thức trong việc chẩn đoán sớm, đánh giá chính xác tổn thương, cũng như tối ưu hóa phác đồ điều trị và theo dõi lâu dài cho người bệnh.

Chính vì vậy, Báo Tiền Phong phối hợp với Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc Phúc Trường Minh tổ chức hội thảo với chủ đề: “Cập nhật phương pháp điều trị, đánh giá tổn thương do ung thư tuyến giáp và liệu pháp hormone”. Chúng tôi kì vọng đây sẽ là diễn đàn khoa học thiết thực, nơi các chuyên gia đầu ngành, các nhà quản lí và đội ngũ bác sĩ lâm sàng cùng trao đổi, chia sẻ những dữ liệu mới nhất, kinh nghiệm thực tiễn, cũng như thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn, vướng mắc trong chẩn đoán, điều trị và cơ chế chính sách liên quan.

Thông qua hội thảo, những kiến thức và khuyến nghị được cập nhật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả điều trị ung thư tuyến giáp, hướng tới chuẩn hóa thực hành lâm sàng, đồng thời tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức của cộng đồng trong phòng ngừa, phát hiện sớm và quản lí bệnh một cách hiệu quả.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố khai mạc hội thảo “Cập nhật phương pháp điều trị, đánh giá tổn thương do ung thư tuyến giáp và liệu pháp hormone”.

Kính chúc các quý vị đại biểu sức khỏe, hạnh phúc và chúc hội thảo của chúng ta thành công tốt đẹp.

04/04/2026 08:20

report Đại biểu, khách mời tới tham dự Hội thảo

PV- TPO

TIN LIÊN QUAN





















Home Icon VỀ TRANG CHỦ