🔍
Chuyên mục: Thời trang

Sắc lụa xứ Quảng qua tư liệu xưa

13 giờ trước
Từ những ghi chép của các nhà du hành, truyền giáo và học giả xưa đã mở ra một bức tranh sinh động về trang phục của người dân xứ Quảng trong lịch sử: rực rỡ, cầu kỳ và giàu tính biểu tượng.

Một nhóm cư dân bên vịnh Đà Nẵng cuối thế kỷ 18. Nguồn: John Barrow

Lụa là phủ kín đời sống...

Trên hành trình Nam tiến của dân tộc Việt, xứ Quảng sớm trở thành nơi hội tụ cư dân và văn hóa. Điều đó không chỉ thể hiện ở đời sống xã hội mà còn in đậm trong trang phục, vốn là tấm gương phản chiếu trực tiếp nếp sống và thẩm mỹ của con người. Trong Ô châu cận lục được Tiến sĩ Sùng Nham Hầu Dương Văn An nhuận sắc vào nửa đầu thế kỷ 16, diện mạo ấy hiện lên qua những câu chữ ngắn gọn mà giàu hình ảnh: “Đàn bà mặc áo Chiêm/ Con trai cầm quạt Tàu/ Đồ người sang kẻ hèn/ Đều vẽ rồng vẽ phượng/ Áo kẻ cao kẻ thấp/ Đều màu đỏ màu hồng”.

Chỉ vài dòng ngắn ngủi, Dương Văn An đã cho thấy sự giao thoa rõ nét: ảnh hưởng Chăm trong trang phục nữ, yếu tố Trung Hoa trong phụ kiện của nam giới, cùng với hoa văn rồng phượng phổ biến ở nhiều tầng lớp. Đáng chú ý, màu đỏ và hồng là những gam màu nổi bật dường như chiếm vị trí chủ đạo trong trang phục của người dân nơi đây.

Đầu thế kỷ 17, giáo sĩ Cristoforo Borri, người sống ở Đàng Trong từ năm 1618 đến 1622, đã để lại những ghi chép chi tiết trong Xứ Đàng Trong năm 1621. Điều gây ấn tượng mạnh với ông là sự phổ biến của lụa: “… tơ lụa rất thông dụng ở xứ Đàng Trong, đến nỗi ai cũng mặc hàng tơ lụa”.

Không chỉ phổ biến, cách sử dụng cũng khiến ông ngạc nhiên khi chứng kiến những “người đàn ông, đàn bà khuân vác đá, đất, vôi… mà họ không hề cẩn thận để giữ cho áo được đẹp và quý hoặc mặc khỏi rách hay bẩn. Bởi nơi này có những cây dâu cao lớn, được trồng trong những thửa ruộng rộng lớn, người ta hái lá để nuôi tằm… Thứ lụa này tuy không thanh và mịn nhưng bền và chắc hơn lụa Trung Quốc”.

Đến cuối thế kỷ 18, John Barrow trong Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792 - 1793) lại ghi nhận một khía cạnh khác: sự giản lược trong trang phục thường ngày. Ông nhận xét: “Y phục của người dân Nam Hà… được rút bớt đi rất nhiều… thường để bắp chân trần và luôn luôn đi chân đất”. Điều này cho thấy sự thích ứng linh hoạt với khí hậu và điều kiện sinh hoạt.

Trang phục nghệ sĩ và người xem trong một buổi biểu diễn tuồng ở Đà Nẵng cuối thế kỷ 18. Nguồn: John Barrow

Khi trang phục biết chuyển màu

Nếu chất liệu tạo nên nền tảng thì kiểu dáng và phối màu chính là linh hồn của trang phục. Qua Borri, có thể thấy rõ cấu trúc nhiều lớp và khả năng phô diễn màu sắc tinh tế.

Ông mô tả: “Họ mặc tới năm hay sáu váy lụa trơn, cái nọ chồng lên cái kia và tất cả có màu sắc khác nhau. Cái thứ nhất phủ dài xuống chấm đất, họ kéo lê rất trịnh trọng, khéo léo và uy nghiêm đến nỗi không trông thấy đầu ngón chân. Sau đó là cái thứ hai ngắn hơn cái thứ nhất chừng bốn hay năm đốt ngón tay, rồi tới cái thứ ba ngắn hơn cái thứ hai và cứ thế trong số còn lại theo tỷ lệ cái nọ ngắn hơn cái kia, để cho các màu sắc đều được phô bày trong sự khác biệt của mỗi tấm. Đó là thứ phái nữ mặc từ thắt lưng xuống bên dưới”. Những lớp váy ngắn dần tạo nên hiệu ứng chuyển màu tự nhiên; khi di chuyển, sắc màu ẩn hiện, mang lại vẻ mềm mại, sống động.

Phần thân trên càng làm nổi bật tính cầu kỳ khi họ “khoác vắt chéo như bàn cờ với nhiều màu sắc khác nhau, phủ lên trên tất cả một tấm voan rất mịn và rất mỏng cho người ta nhìn qua thấy tất cả màu sặc sỡ chẳng khác mùa xuân vui tươi và duyên dáng, nhưng cũng không kém trịnh trọng và giản dị”.

Không chỉ trang phục, mái tóc và phụ kiện cũng góp phần định hình vẻ đẹp: “Họ để tóc xõa và rủ xuống vai, có người để tóc dài chấm đất, càng dài càng được coi là càng đẹp. Họ đội trên đầu một thứ mũ lớn riềm rộng che hết mặt khiến họ chỉ có thể trông xa hơn ba hay bốn bước trước mắt họ. Thứ mũ đó cũng đan bằng lụa và kim tuyến tùy theo gia thế của từng người” - Borri đặc tả.

Trang phục nam giới cũng không hề đơn giản. Borri ghi nhận: “Đàn ông thì không nai nịt, nhưng quàng cả một tấm, rồi cũng thêm năm hay sáu áo dài và rộng. Tất cả đều bằng lụa màu sắc khác nhau với ống tay rộng và dài như ống tay các tu sĩ. Còn từ thắt lưng trở xuống thì tất cả đều sắp đặt các màu rất khéo và rất đẹp. Thế nên khi ra phố thì họ phô trương màu sắc hài hòa”.

Trong khi đó, tầng lớp trí thức lại có xu hướng tiết chế: “Các văn nhân và tiến sĩ thì ăn mặc trịnh trọng hơn, tuy nhiên quần áo của họ không có màu sắc lòe loẹt, thường thì áo dài đen, đầu đội khăn đóng. Cả đàn ông, đàn bà đều ưa cầm quạt rất giống như ở châu Âu (họ cầm lấy lệ thôi). Người châu Âu khi để tang thì mặc áo màu đen, còn họ dùng màu trắng”.

Đến thế kỷ 18, học giả Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục tiếp tục xác nhận sự phát triển của nghề dệt nơi đây: “... Người Thăng Hoa, Điện Bàn biết dệt vải, lụa… hoa màu đẹp chẳng kém lụa Quảng Đông”.

Ông cũng nhận xét về xu hướng ăn mặc có phần xa hoa: “Những sắc mục ở dân gian cũng mặc áo đoạn hoa bát ty… lấy áo vải mộc làm hổ thẹn”.

Từ những tư liệu, có thể thấy trang phục người xứ Quảng xưa là kết tinh của điều kiện kinh tế, nghề thủ công phát triển và giao thoa văn hóa sâu sắc. Đó không chỉ là lớp áo bên ngoài mà còn là biểu hiện của một xã hội năng động, nơi cái đẹp được tạo nên từ sự phong phú, linh hoạt và không ngừng biến đổi.

HOÀI NAM









Home Icon VỀ TRANG CHỦ