🔍
Chuyên mục: Ẩm thực

Quê nhà nải chuối, buồng cau

2 giờ trước

Ở nhiều tỉnh, thành miền Tây Nam bộ, cây chuối, cây cau bình dị đến mức đi đâu cũng gặp, quen thuộc đến nỗi đôi khi người ta chẳng còn để ý. Vậy mà một buổi trưa nắng vàng như mật, đứng trước chái bếp lợp lá, nhìn nải chuối chín treo lủng lẳng trên xà nhà, lòng bỗng chùng xuống, như chạm vào miền ký ức ngọt ngào thuở bé.

Góc bếp quen thuộc trong nhiều gia đình. Ảnh: NHÀ ÚT TÌNH

Của để dành đôi khi đâu phải thứ đắt giá hay quý hiếm. Đó là buồng chuối chín cây, tía đốn xuống rồi má đem treo ngoài chái bếp sau hè, để sắp nhỏ đi ngang thì với tay bẻ ăn.

Chẳng ai dặn ai, nhưng cả nhà đều hiểu nải chuối ấy là phần dành cho con cái, cho khách bất ngờ ghé chơi, cho những buổi chiều trời trở gió, chợ xa không kịp đi. Của để dành ấy không cất trong tủ khóa mà treo ngay chỗ ai cũng thấy, ai cũng với tay tới. Trong cái bình dị ấy là tình thương của tía má, là vị ngọt quê nhà.

Chuối ở quê phổ biến là chuối sứ, ngọt vừa phải, thơm dịu. Ăn 1 trái thấy thèm, 2 trái là bắt đầu lưng lưng bụng. Cái ngọt biết điểm dừng ấy cũng như tính cách người Nam bộ: đủ đầy mà không phô trương, chân tình mà không cầu kỳ.

Người Nam bộ vốn trọng cái tình. Nhà có chuối chín thì chia hàng xóm, có buồng cau ngon thì biếu ông bà ăn trầu. Một nải chuối trao tay chẳng đáng bao nhiêu, nhưng cái nghĩa xóm giềng “tối lửa tắt đèn có nhau” thì đi qua bao mùa nước nổi vẫn còn nguyên.

Cái tài của má là biến thứ trái cây quen thuộc thành cả một “thực đơn” của tuổi thơ. Chuối chín đem hấp nước cốt dừa, nướng vàng trên bếp than, chiên giòn, nấu chè, làm bánh.

Chuối xanh nấu canh, kho cá, thái lát ăn kèm rau sống. Bắp chuối bào mỏng trộn gỏi, lá chuối gói bánh, lót nồi cá kho... Gần như phần nào của cây chuối cũng có chỗ dùng.

Có lẽ vì thế mà người quê luôn biết quý những gì mình có. Hạt gạo rơi cũng nhặt, cọng rau thừa cũng có chỗ dùng, trái chín rụng cũng được chia nhau. Sự cần kiệm ấy không chỉ đến từ những tháng ngày thiếu thốn mà còn từ lòng biết ơn đất trời, mưa nắng, biết quý công sức nhọc nhằn qua từng mùa vụ.

Má chẳng giảng giải đạo lý nào, chỉ lặng lẽ làm, lặng lẽ giữ. Vậy mà sắp nhỏ trong nhà lớn lên, tự khắc thấm cái lẽ sống giản dị: của ít lòng nhiều và khách đến thăm nhà bao giờ cũng có chút quà quê mang về.

Nếu chuối là thứ để dành cho những bữa ăn, thì buồng cau là thứ gìn giữ nếp nhà. Buồng cau nặng trĩu trước hiên gắn với miếng trầu, với câu “miếng trầu là đầu câu chuyện”, với mâm cau trong ngày đám hỏi, đám cưới, với lời hẹn ước nghĩa tình.

Nay người ăn trầu đã ít, nhưng cau vẫn hiện diện trong lễ nghi, trong ký ức bao thế hệ, như sợi dây mảnh mà bền chặt nối người hôm nay với ông bà, tổ tiên. Và sau cùng, điều đọng lại không phải là chuối hay cau, mà là đôi bàn tay của người vun vén mái nhà.

Những bàn tay chai sạn năm này qua năm khác vẫn nhóm lửa, nêm nếm, chăm chút để căn nhà luôn có mùi thơm của bữa cơm, có hơi ấm gia đình.

Tình thương ấy chẳng ồn ào, chẳng cần gọi tên, chỉ cần có mặt đúng lúc: nải chuối treo sẵn ngoài chái bếp, buồng cau để dành khi nhà có cưới hỏi.

Chiều xuống, đứa con xa nhà trở về, đi ngang chái bếp, với tay bẻ một trái chuối vàng, nếm lại vị ngọt thơm quen thuộc. Chợt hiểu của để dành năm xưa đâu chỉ là trái chuối, mà còn là tình thương tía má gửi trong từng nải chuối, buồng cau.

TỊNH UYỂN









Home Icon VỀ TRANG CHỦ