Phú Thọ đẩy mạnh chuyển đổi số, mở hướng giảm nghèo bền vững ở nông thôn

Nhờ áp dụng khoa học công, Mô hình trồng bưởi giúp người dân tại tỉnh Phú Thọ thoát nghèo và tăng thu nhập.
Sau khi hợp nhất từ ba tỉnh Phú Thọ (cũ), Vĩnh Phúc và Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ mới bước vào giai đoạn phát triển với quy mô dân số, diện tích và nguồn lực lớn hơn. Thực tiễn đặt ra yêu cầu phải tái cấu trúc không gian kinh tế nông thôn theo hướng hiện đại, liên kết vùng và khai thác hiệu quả lợi thế nông nghiệp.
Trong bối cảnh đó, công tác giảm nghèo không còn dừng ở hỗ trợ trực tiếp, mà chuyển mạnh sang nâng cao năng lực sản xuất, kết nối thị trường và ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số. Đây được coi là giải pháp căn cơ nhằm tạo sinh kế bền vững cho người dân khu vực nông thôn, miền núi.
CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN LÀ KHÂU ĐỘT PHÁ
Phú Thọ hiện có hơn 430.000 ha đất lâm nghiệp, 133.000 ha đất cây hằng năm và trên 100.000 ha đất cây lâu năm. Quỹ đất rộng, đa dạng sinh thái tạo điều kiện hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, gắn với chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị.
Nhiều sản phẩm nông nghiệp đã khẳng định được thương hiệu trên thị trường như chè Phú Thọ, bưởi Đoan Hùng, cam Cao Phong, gà Lạc Thủy, thịt chua Thanh Sơn, mía tím Hòa Bình. Một số sản phẩm đang từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng nông sản an toàn, chất lượng cao ngày càng gia tăng.
Trên nền tảng đó, tỉnh Phú Thọ xác định chuyển đổi số trong nông nghiệp, nông thôn là khâu đột phá, giúp người dân giảm nghèo, tăng thu nhập bằng cách tiếp cận khoa học kỹ thuật, tổ chức lại sản xuất, minh bạch thông tin và mở rộng thị trường tiêu thụ. Việc số hóa quy trình sản xuất, quản lý vùng trồng, truy xuất nguồn gốc được xem là chìa khóa nâng cao giá trị nông sản, đồng thời tạo điều kiện để hộ nghèo, cận nghèo tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Thực tế cho thấy, nhiều mô hình sản xuất gắn với ứng dụng khoa học công nghệ, tổ chức theo hợp tác xã đã góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập và từng bước hình thành sinh kế bền vững cho người dân nông thôn.
Tại thôn Đồng Sương, xã Liên Sơn, mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ của gia đình ông Bạch Xuân Tráng là một ví dụ tiêu biểu cho cách tiếp cận mới trong giảm nghèo. Từng là hộ khó khăn sau khi tách ra ở riêng, thiếu vốn và sản xuất manh mún, gia đình ông Tráng đã lựa chọn chuyển sang hướng canh tác hữu cơ, coi chất lượng và thị trường là yếu tố then chốt.
Trên diện tích khoảng 4.500 m², ông Tráng trồng 300 cây ổi theo quy trình hữu cơ, kết hợp trồng rau sạch, mít, na để đa dạng hóa sản phẩm và tận dụng hiệu quả đất đai. Việc không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, áp dụng các biện pháp sinh học giúp vườn cây duy trì cân bằng sinh thái, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường.
CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠO “ĐÒN BẨY” CHO SINH KẾ NÔNG THÔN
Không dừng lại ở thay đổi phương thức canh tác, gia đình ông Tráng còn từng bước tiếp cận khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong tổ chức sản xuất, tiêu thụ nông sản. Việc tham gia Hợp tác xã Nông sản Hữu cơ giúp gia đình được hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn ghi chép nhật ký canh tác, quản lý vườn theo quy trình bài bản và kết nối thị trường tiêu thụ.
Thông qua các lớp tập huấn, người nông dân từng bước làm quen với yêu cầu của sản xuất hiện đại, từ tiêu chuẩn an toàn, truy xuất nguồn gốc đến tiếp cận thị trường thông qua các kênh phân phối mới. Bên cạnh đó, người dân chủ động tìm kiếm khách hàng, trực tiếp giao sản phẩm cho người tiêu dùng tại Hà Nội, qua đó nắm bắt nhu cầu thị trường và điều chỉnh phương thức sản xuất phù hợp.
Nhờ tổ chức sản xuất hiệu quả, mỗi năm gia đình ông Tráng thu về khoảng 350 triệu đồng từ rau và ổi hữu cơ. Từ một hộ khó khăn, gia đình đã xây dựng được cuộc sống ổn định, nhà cửa khang trang, con cái được học hành đầy đủ. Mô hình này cũng đang được nhiều hộ dân trong thôn, trong xã đến tham quan, học hỏi và nhân rộng.
Thực tiễn tại xã Liên Sơn cho thấy, khi người dân được tiếp cận khoa học công nghệ, tổ chức sản xuất theo chuỗi và từng bước hòa nhập vào kinh tế số nông thôn, hiệu quả giảm nghèo trở nên rõ nét và bền vững hơn.
Nhờ thúc đẩy chuyển đổi số, tỉnh Phú Thọ đã có sự thay đổi trong giảm nghèo và an sinh. Tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân 1,3% mỗi năm; hơn 23.900 hộ nghèo và 6.400 hộ cận nghèo đã thoát nghèo trong bốn năm qua.
100% người dân thuộc hộ nghèo, cận nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi giảm còn 13,5%. Hệ thống giáo dục dân tộc nội trú, bán trú được củng cố với 36 trường; 15 cơ sở giáo dục nghề nghiệp và 173 mô hình đào tạo nghề đã đào tạo hơn 12.700 học viên.
Thông qua tư vấn, hướng dẫn tiếp cận với thông tin, truyền thông số, hỗ trợ học nghề và giới thiệu việc làm, hàng nghìn lao động nông thôn, lao động dân tộc thiểu số có cơ hội nâng cao tay nghề, tăng thu nhập và từng bước ổn định cuộc sống. Đây được xem là nền tảng quan trọng để chuyển đổi số và khoa học công nghệ phát huy hiệu quả trong giảm nghèo bền vững.
Những kết quả đạt được cho thấy, giảm nghèo tại Phú Thọ đang chuyển mạnh từ hỗ trợ sang tạo động lực phát triển, trong đó khoa học công nghệ và chuyển đổi số đóng vai trò trung tâm, mở ra không gian phát triển mới cho kinh tế nông thôn và sinh kế của người dân.
Minh Hiếu
23 phút trước
5 giờ trước
5 giờ trước
6 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
5 giờ trước
3 giờ trước
10 phút trước
2 phút trước
13 phút trước
15 phút trước
22 phút trước
23 phút trước
25 phút trước
25 phút trước