Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thượng Vũ: 'Y học không chỉ là chữa bệnh mà còn là giữ lại hy vọng'

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thượng Vũ (bên trái) thực hiện thủ thuật nội soi phế quản siêu âm sinh thiết.
Cú rẽ chuyên ngành hô hấp và dấu ấn trong điều trị các bệnh phổi
Bác sĩ Vũ bắt đầu con đường y khoa chuyên nghiệp khi trúng tuyển vào chương trình bác sĩ nội trú của Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1986. Đây là chương trình đào tạo khắt khe mà ông gọi là "nội trú tinh hoa", chỉ chọn khoảng 20-30 người đứng đầu từ hơn 400 ứng viên.
Cơ duyên đến với chuyên ngành hô hấp của ông khá đặc biệt. Ban đầu, ông rất thích chuyên khoa Tim mạch vì đây là ngành "hot" thời bấy giờ. Tuy nhiên, sau một kỳ thi chọn chuyên ngành, ông lại rẽ hướng sang chuyên khoa hô hấp và coi đó là một "duyên nợ".
Một trong những bước ngoặt lớn nhất giúp ông trở thành bác sĩ giỏi là khoảng thời gian đi học FFI (Faisant Fonction d'Interne) tại Pháp. Tại đây, ông được đào tạo chuyên sâu về phổi và có cơ hội tiếp cận với những kỹ thuật y khoa tiên tiến. Sau khi về nước, ông mang những kiến thức học được ứng dụng vào thực tế tại Việt Nam, đồng thời duy trì kết nối với các hội nghề nghiệp quốc tế (như Hội Phổi Pháp Việt AFVP Association France Vietnammiene de Pneumologie) để liên tục cập nhật trình độ cho bản thân và đồng nghiệp.
Ông là điều phối viên giúp kết nối Hội Phổi Pháp Việt và Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong chương trình đào tạo chuyên khoa Phổi cấp bằng liên đại học chuyên khoa phổi DIU (diplome interuniversitaire en Pneumologie).
Những kiến thức ông mang về từ Pháp đã tạo ra những bước ngoặt trong công tác điều trị cho người bệnh mắc các bệnh lý hô hấp. Bệnh viện Chợ Rẫy - một trong những bệnh viện lớn nhất tại thành phố có tỷ lệ bệnh nhân đến khám vì bệnh lý hô hấp, phổi ngày càng gia tăng.
Vì thế, khi trở về từ Pháp, bác sĩ Vũ mang theo nhiều tâm tư: “Làm thế nào để chẩn đoán chính xác các tổn thương nguy cơ cao liên quan đến bệnh phổi?”. Vì thế, ông nung nấu phải nghiên cứu bằng được kỹ thuật sinh thiết xuyên ngực.
Nhớ lại thời gian hơn 20 năm trước, bác sĩ Vũ kể về điều kiện trang thiết bị rất còn thô sơ và nhân lực rất mỏng, gần như ông nghiên cứu một mình. Ông thường phải đợi giờ nghỉ trưa hoặc đến cuối giờ hành chính buổi chiều, khi các đồng nghiệp khác đã về hết và phòng CT trống, mới có thể bắt đầu thực hiện ca sinh thiết cho bệnh nhân.
Kỹ thuật sinh thiết xuyên ngực mang dấu ấn lớn nhất của bác sĩ Vũ tại Bệnh viện Chợ Rẫy đã đưa Khoa Hô hấp bệnh viện này trở thành một trong những trung tâm thực hiện chẩn đoán và điều trị bệnh phổi hàng đầu cả nước.
Sau khi đã làm chủ và khẳng định hiệu quả của kỹ thuật, bác sĩ Vũ đã tiến hành chuyển giao công nghệ này cho các đơn vị y tế khác, tiêu biểu như Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương, Bệnh viện Quận Thủ Đức.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Lê Thượng Vũ, Trưởng Khoa Hô hấp, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
Mặc dù sinh thiết xuyên ngực là một thế mạnh lớn giúp chẩn đoán bệnh chính xác, bác sĩ Vũ cũng nhận thức rõ đây là phương pháp khá xâm lấn và tiềm ẩn nhiều tai biến. Chính từ kinh nghiệm này, ông đã tiếp tục tìm tòi và sau này chuyển dịch sang các kỹ thuật hiện đại hơn như nội soi siêu âm (EBUS) để chẩn đoán ít xâm lấn nhưng hiệu quả cao hơn cho người bệnh.
Một lần nữa, ông lại khăn gói sang nước bạn học tập. Thời gian học miệt mài ở Nhật Bản, bác sĩ Vũ đã tiếp tục mang về bệnh viện kỹ thuật nội soi siêu âm (EBUS). Hành trình này, ông tiếp tục nghiên cứu triển khai tại Bệnh viện Chợ Rẫy sau đó phát triển mạnh mẽ tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh vào cuối năm 2022, khi ông được mời về làm Trưởng Khoa Hô hấp.
Đây là một bước tiến quan trọng trong sự nghiệp của ông. Kỹ thuật này cho phép bác sĩ tiếp cận được những vị trí trong phổi mà trước đây các phương pháp thông thường không thể chạm tới, chẳng hạn như trong trung thất, vùng ngoại vi xa sát ngoài thành ngực. So với các phương pháp cũ, nội soi siêu âm giúp việc chẩn đoán bệnh lý (đặc biệt là ung thư phổi) trở nên chính xác hơn nhưng lại ít xâm lấn hơn, giảm thiểu các tai biến cho bệnh nhân.
“Các đồng nghiệp Nhật Bản đã hỗ trợ rất nhiều cho Hội Phổi Việt Nam và tôi trong việc đào tạo kỹ thuật này, giúp tạo ra sự tiến bộ đáng kể trong chuyên ngành hô hấp tại Việt Nam. Nhờ việc tiếp thu kỹ thuật từ Nhật Bản, hiện nay Khoa Hô hấp của Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành đơn vị dẫn đầu về nội soi siêu âm có mô bệnh tế bào học nhanh (rapid onsite cytology) với chất lượng cao nhất và số lượng nhiều nhất khu vực miền nam”, bác sĩ Vũ tự hào nói.
Trong lĩnh vực bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), hen và các bệnh lý hô hấp khác, Phó Giáo sư Lê Thượng Vũ cũng luôn cố gắng cập nhật các phương pháp điều trị bằng thuốc hít, kết hợp nhiều thuốc trong một bình xịt và các thuốc sinh học mới nhất theo xu hướng của thế giới. Tuy bệnh phổi kẽ trước đó là bệnh hiếm nhưng ông đã đề xuất Khoa Hô hấp, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cùng với Khoa Hô hấp, Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Nhân dân Gia Định phát triển hội chẩn đa chuyên khoa và tiến hành nghiên cứu ghi nhận, theo dõi bệnh phổi kẽ trên hàng trăm bệnh nhân. Ông cũng phát triển Khoa Hô hấp thành trung tâm bệnh phổi kẽ có nhiều nghiên cứu.
Trong điều trị bệnh nhiễm trùng hô hấp, bệnh viện tiếp cận theo hướng chẩn đoán sớm và cá thể hóa hơn. Trước đây, nhiều nơi thường không quá chú trọng việc xét nghiệm phát hiện sớm cúm hay Covid-19. Nhưng sau đại dịch Covid-19 và trước đó là dịch cúm H1N1 năm 2009, các chuyên gia tại đây hiểu rõ hơn rằng các virus như cúm hoặc Covid-19 thường là tác nhân khởi đầu, sau đó vi khuẩn như phế cầu, tụ cầu hoặc vi khuẩn gram âm mới bội nhiễm và làm bệnh nặng lên.
“Trước đây, phần lớn chúng ta chỉ tập trung điều trị giai đoạn nhiễm khuẩn sau, nhưng hiện nay nếu phát hiện sớm cúm hoặc Covid-19 và điều trị ngay từ đầu, thì có thể ngăn bệnh tiến triển nặng, giảm rất nhiều biến chứng phía sau.
Vì vậy, tại bệnh viện, việc test cúm và Covid-19 đã trở thành quy trình thường quy. Nếu phát hiện cúm thì dùng thuốc điều trị cúm, nếu là Covid-19 thì điều trị theo phác đồ phù hợp. Khi chặn bệnh ngay từ giai đoạn đầu, tình trạng bệnh nhân thường nhẹ hơn rất nhiều. Nhờ những thay đổi này, tỷ lệ tử vong trong vài năm gần đây nhìn chung giảm dần”, bác sĩ Vũ cho hay.
"Cá thể hóa" trong điều trị ung thư
Trong hành trình y nghiệp của bác sĩ Vũ, điều trị ung thư phổi không chỉ là một chuyên môn mũi nhọn mà còn là tâm huyết lớn nhất nhằm thay đổi định kiến "ung thư là án tử". Phương pháp của ông tập trung vào sự kết hợp giữa kỹ thuật chẩn đoán hiện đại, y khoa chính xác và sự nâng đỡ tinh thần cho người bệnh. Triết lý điều trị ung thư cá thể hóa của bác sĩ Vũ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa y khoa chính xác (khoa học) và sự nâng đỡ tinh thần (xã hội), nhằm mang lại hiệu quả điều trị cao nhất và chất lượng sống tốt nhất cho bệnh nhân.
Trước đây, cách đây khoảng 20-30 năm, việc điều trị chủ yếu là hóa trị. Nếu khối u to lên thì đổi sang loại hóa trị khác, rồi lại đổi tiếp. Vì vậy bệnh nhân thường rất sợ hóa trị, do tác dụng phụ chồng lên tác dụng phụ. Còn hiện nay, với thuốc nhắm trúng đích, nếu một thuốc không còn hiệu quả thì có thể chuyển sang thuốc nhắm trúng đích khác, và tác dụng phụ thường ít hơn nhiều. Tất nhiên, để làm được điều đó thì cần phải sinh thiết lại để tìm đúng đích.
Với những đột phá trong kỹ thuật lấy mẫu ít xâm lấn như nội soi siêu âm có hỗ trợ bởi đọc kết quả mô bệnh tế bào nhanh, kèm gây mê, một điểm nhấn trong chuyên môn của bác sĩ Vũ là nhấn mạnh việc sinh thiết lại khi bệnh có dấu hiệu tiến triển (khối u to ra hoặc tình trạng xấu đi).

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thượng Vũ.
Điều này đôi khi khiến bệnh nhân và gia đình lo lắng, vì đang điều trị rồi lại phải chọc sinh thiết thêm lần nữa. Tuy nhiên, bác sĩ Vũ nhấn mạnh, việc sinh thiết lại rất quan trọng để tìm ra đúng nguyên nhân của bệnh.
“Không phải trường hợp nào bệnh nhân ung thư xấu đi đều do khối u kháng thuốc. Tại Việt Nam, nhiều trường hợp ung thư phổi có lao chồng lấp. Sinh thiết lại giúp phát hiện lao để điều trị kịp thời, cứu sống nhiều bệnh nhân. Đồng thời, một khi đã loại các bệnh đồng mắc như lao, chúng tôi cũng sẽ tìm ra nguyên nhân u tăng kích thước, đánh giá lại thuốc đích điều trị. Các chỉ điểm sinh học có thể thay đổi sau một thời gian dùng thuốc. Việc sinh thiết lại giúp bác sĩ có quyết định đổi loại thuốc đích phù hợp thay vì thay đổi phác đồ một cách không có căn cứ”, bác sĩ Vũ nói.
Chuyên gia này tự hào kể về một bệnh nhân, đã theo ông từ Bệnh viện Chợ Rẫy sang Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh điều trị suốt 8 năm qua. Năm 2016, người bệnh đến khám trong tình trạng ung thư phổi di căn não, tiên lượng sống chỉ khoảng 4-6 tháng. Nhờ quyết đoán thực hiện xét nghiệm gene chuyên sâu và dùng thuốc đích phù hợp, bệnh nhân đó hiện vẫn đang sống khỏe mạnh sau 8 năm. “Đây là một kỳ tích với chúng tôi”, bác sĩ Vũ tự hào nói.
Kỳ tích ấy đến từ nỗ lực xây dựng chiến lược tổng thể trong điều trị mà bác sĩ Vũ đã dày công học tập, nghiên cứu và triển khai tại bệnh viện. Mọi thứ bắt đầu từ CT scan liều thấp để tầm soát và phát hiện bệnh sớm. Sau đó là chẩn đoán nhanh, chỉ hai ngày sau sinh thiết đã có kết quả giải phẫu bệnh, xác định được có phải ung thư hay không. Tiếp theo là bước xét nghiệm các chỉ điểm gene để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.
Bác sĩ Vũ là người thúc đẩy mạnh mẽ việc tìm kiếm các chỉ điểm sinh học để đưa ra phác đồ điều trị riêng biệt cho từng người. “Trên thế giới có khoảng 9 gene quan trọng, thì chúng tôi cũng xét nghiệm đủ 9 gene này cho bệnh nhân”, bác sĩ Vũ nói.
Không phải cơ sở y tế nào cũng thực hiện điều này. Một số bệnh viện, trong danh mục thuốc điều trị hiện có thể chỉ có thuốc nhắm trúng đích cho 2 loại gene vì thế chỉ xét nghiệm hai loại gene. Trong khi đó, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh lại thường làm một xét nghiệm bao gồm cả 9 gene.
Về mặt nguyên tắc thì nếu chỉ có thuốc cho 2 gene, việc xét nghiệm đủ 9 gene có vẻ như hơi “dư”. Nhưng điểm hay của kỹ thuật sinh học phân tử mới là thời gian xét nghiệm không tăng thêm, lượng mẫu không cần nhiều hơn, chi phí chỉ tăng thêm một chút. Nhờ vậy, nếu phát hiện ra một đột biến gene phù hợp, các bác sĩ vẫn có thể tìm cách tiếp cận loại thuốc tối ưu nhất cho bệnh nhân, bằng cách gửi bệnh nhân vào các thử nghiệm lâm sàng…
Nhờ xác định đúng gene, bệnh nhân có thể sử dụng các loại thuốc đích (như osimertinib hoặc alectinib ngay cả khi có di căn não) hoặc nhờ xét nghiệm PD-L1 mà cá thể hóa liệu pháp miễn dịch. Những phương pháp này mang lại hiệu quả vượt trội, ít tác dụng phụ hơn hẳn so với hóa trị truyền thống, giúp kéo dài thời gian sống với chất lượng tốt.
Không ngừng học tập và nâng đỡ tinh thần cho người bệnh
Câu hỏi mà bác sĩ Vũ gặp nhiều nhất trong cuộc đời làm bác sĩ của mình đến nay, chính là: “Bác sĩ ơi, bệnh của tôi có nặng không?”. Bác sĩ Vũ không thể im lặng trước câu hỏi ấy. Nhưng điều ông cố gắng nhất không phải là hứa hẹn điều không chắc chắn, mà là giúp bệnh nhân giữ được sự lạc quan để bước vào hành trình điều trị vốn không hề dễ dàng. Bởi vậy, ông luôn chọn cách nhẹ nhàng để giúp người bệnh yên tâm điều trị, rằng: “Bác may mắn vì đang sống trong thời đại có nhiều phương tiện chẩn đoán và nhiều thuốc điều trị mới”.

Tập thể Khoa Hô hấp, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
Bác sĩ Vũ tâm sự, bản thân anh không bao giờ muốn bệnh nhân cảm thấy rằng ung thư đồng nghĩa với án tử. Nhiều bệnh nhân chỉ mong có thêm thời gian để chứng kiến con cái lập gia đình, có cháu nội cháu ngoại, hoặc hoàn thành những điều còn dang dở trong cuộc sống.
Với anh, y khoa vừa là khoa học, vừa là một ngành mang tính xã hội rất sâu sắc. Khoa học giúp chúng ta chẩn đoán đúng và điều trị đúng, nhưng yếu tố xã hội nằm ở cách giao tiếp, chia sẻ và nâng đỡ tinh thần bệnh nhân. Khi bác sĩ và bệnh nhân cùng cố gắng, tinh thần điều trị cũng khác hẳn, và kết quả thường tốt hơn. Với các phương pháp điều trị mới như liệu pháp miễn dịch và thuốc nhắm trúng đích, nhiều bệnh nhân vẫn có thể sống thêm nhiều năm với chất lượng cuộc sống tốt, tiếp tục làm việc, cống hiến và tận hưởng niềm vui gia đình.
Với chuyên gia đầu ngành về hô hấp đã dành gần 30 năm nghiên cứu và cập nhật kỹ thuật mới không ngừng, bác sĩ Vũ luôn chia sẻ với các thầy thuốc trẻ, trí tuệ nhân tạo trong tương lai có thể thay thế rất nhiều công việc của bác sĩ. Bên cạnh đó, công nghệ sẽ phát triển rất nhanh. Thí dụ như trước đây chỉ có nội soi thông thường, nhưng trong tương lai gần các bác sĩ trẻ có thể phải làm nội soi có định vị (navigation bronchoscopy) và nhiều kỹ thuật mới khác.
Vì vậy, điều quan trọng nhất là phải học tập suốt đời. Chỉ có học liên tục thì mới theo kịp tốc độ phát triển của y học thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh kiến thức chuyên môn, có một điều mà máy móc hay trí tuệ nhân tạo không thể thay thế, đó là sự kết nối và lòng trắc ẩn với bệnh nhân. Khi điều trị bệnh, đặc biệt là bệnh nhân ung thư, chúng ta không chỉ chữa về mặt thể chất mà còn phải nâng đỡ tinh thần cho họ.
Sau hơn 3 thập kỷ làm nghề, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thượng Vũ vẫn giữ cho mình sự kiên trì học hỏi và niềm tin vào những tiến bộ của y học. Với anh, mỗi kỹ thuật mới, mỗi phương pháp điều trị hiện đại đều mở ra thêm một cơ hội cho người bệnh. Và có lẽ điều khiến anh gắn bó với nghề suốt ngần ấy năm không chỉ là những thành tựu chuyên môn, mà còn là khoảnh khắc bệnh nhân quay lại phòng khám, khỏe mạnh hơn, mỉm cười và nói lời cảm ơn. Bởi với anh, y học không chỉ là chữa bệnh, mà còn là giúp người bệnh giữ lại hy vọng để tiếp tục sống và bước tiếp.
THIÊN LAM
3 ngày trước
2 giờ trước
36 phút trước
1 giờ trước
5 phút trước
9 phút trước
10 phút trước
15 phút trước
15 phút trước
17 phút trước
25 phút trước
26 phút trước
33 phút trước