Phiên tòa đầu tay và lời đe dọa sau bản án
Hơn hai mươi năm trôi qua, ông Nguyễn Văn Đồng (nguyên Chánh án TAND TP Uông Bí, Quảng Ninh) vẫn nhớ rõ vụ án dân sự đầu tiên mình giải quyết trên cương vị Thẩm phán. Đó không phải một vụ án phức tạp, cũng không có tranh chấp tài sản lớn, nhưng lời đe dọa bất ngờ của bị đơn ngay sau khi bản án được tuyên đã trở thành ký ức khó quên trong những năm tháng đầu tiên ông làm công tác xét xử.

Tháng 4/2004, ông Đồng được điều động từ TAND thị xã Uông Bí về công tác tại TAND huyện Hải Hà. Sau kỳ nghỉ lễ 30/4 và 1/5, ông rời Uông Bí, vượt quãng đường gần 200km để nhận nhiệm vụ tại huyện biên giới còn nhiều khó khăn của tỉnh Quảng Ninh. Chính tại nơi này, ông được bổ nhiệm làm Thẩm phán và bắt đầu trực tiếp giải quyết những vụ án đầu tiên.
Cuộc hôn nhân gần 10 năm không có đăng ký kết hôn
Cuối tháng 6/2004, lãnh đạo đơn vị phân công ông giải quyết vụ án “Không công nhận là vợ chồng” giữa chị Vi Thị H (SN 1978) và anh Hoàng Nhì L (SN 1971). Cả hai đều là người dân tộc Tày, thuộc diện di cư tự do, vừa được địa phương hỗ trợ nhà ở, đất ở tại xã Quảng Đức để ổn định cuộc sống.
Hồ sơ vụ án không dày, nhưng phía sau những trang giấy là câu chuyện của một gia đình đã trải qua nhiều năm phiêu bạt. Chị H. về chung sống với anh L. từ năm 16 tuổi theo phong tục của người Tày. Hai người không đăng ký kết hôn nhưng suốt gần chín năm vẫn sống với nhau như vợ chồng và lần lượt có 5 người con.
Chị H. đã học hết cấp hai, sử dụng thành thạo cả tiếng phổ thông và tiếng dân tộc nên được địa phương mời tham gia công tác xã hội với vai trò tình nguyện viên y tế cộng đồng. Công việc giúp chị hỗ trợ những người dân tộc thiểu số có hoàn cảnh tương tự trong việc tiếp cận các hoạt động chăm sóc sức khỏe, cũng từ đây, mâu thuẫn trong gia đình ngày càng gay gắt.
Theo kết quả xác minh của Tòa án, anh L. không đồng tình với việc vợ thường xuyên tham gia công việc bên ngoài. Những cuộc cãi vã xảy ra nhiều hơn, chính quyền thôn đã phải nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả. Anh L. được xác định là người có tính gia trưởng, từng đánh vợ và có những lần bỏ đi khỏi địa phương nhiều ngày, trong khi chị H. vừa tham gia công tác xã hội, vừa sản xuất để chăm lo cho các con.
Tháng 6/2004, chị H. gửi đơn đến TAND huyện Hải Hà, do hai người chưa từng đăng ký kết hôn, vụ việc không được giải quyết như một vụ ly hôn thông thường. Theo quy định của pháp luật tại thời điểm đó, Tòa án sẽ xem xét yêu cầu và tuyên không công nhận quan hệ vợ chồng nếu có đủ căn cứ, đồng thời giải quyết các vấn đề về con chung và tài sản theo quy định.
Trong quá trình giải quyết vụ án, cán bộ Tòa án vẫn giải thích để hai bên hiểu rằng nếu còn tình cảm và muốn tiếp tục chung sống, họ có thể đăng ký kết hôn. Chị H. không thay đổi quyết định, đề nghị được trực tiếp nuôi cả 5 người con và không yêu cầu anh L. cấp dưỡng, người chồng không chấp nhận các yêu cầu này.
Để làm rõ hoàn cảnh của các đương sự, ông Đồng cùng thư ký trực tiếp xuống địa phương xác minh. Năm người con của họ khi ấy đều còn nhỏ, cháu lớn nhất mới 8 tuổi, cháu nhỏ nhất khoảng 2 tuổi. Chính quyền địa phương xác nhận mâu thuẫn gia đình đã kéo dài, nhiều lần hòa giải không thành, trong khi chị H có nguồn thu nhập và đất sản xuất, cuộc sống cơ bản ổn định.
Quá trình xem xét tại nơi ở của các đương sự cho thấy tài sản của gia đình chỉ có căn nhà gạch đất rộng khoảng 70m², một gian bếp nhỏ, bể nước cùng ruộng lúa, nương ngô và rau màu. Đó là những gì họ gây dựng được sau nhiều năm di cư, nhưng cũng không đủ để níu giữ một mối quan hệ đã có quá nhiều mâu thuẫn. Trước ngày mở phiên tòa, chị H. rút yêu cầu chia tài sản để hai bên tự thỏa thuận, vì vậy HĐXX chủ yếu xem xét quan hệ giữa hai người và việc nuôi 5 người con.
Lời đe dọa sau khi tuyên án
Sáng 21/7/2004, ông Nguyễn Văn Đồng bước vào phiên tòa dân sự đầu tiên trên cương vị Thẩm phán. Hồ sơ đã được nghiên cứu kỹ, những vấn đề liên quan đến mâu thuẫn gia đình và điều kiện nuôi con cũng được xác minh nên phiên tòa diễn ra bình thường.
Sau khi xem xét tài liệu và ý kiến của các đương sự, HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị H., tuyên không công nhận chị và anh L. là vợ chồng; giao cả 5 người con cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh L. không phải cấp dưỡng theo yêu cầu của chị H. nhưng vẫn có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục các con.
Ngay sau khi chủ tọa công bố xong bản án, anh Hoàng Nhì L. bước nhanh về phía trước bàn của HĐXX lớn tiếng phản đối. Người đàn ông này cho rằng để cưới được vợ, mình đã phải mất “bạc trắng, trâu bò”, rồi nói: “Khi sống nó là vợ tao, khi chết nó là con ma nhà tao”. Trong lúc bức xúc, anh L. tiếp tục hướng về phía chủ tọa và buông lời đe dọa: “Mày tuyên chúng tao không phải là vợ chồng thì tao sẽ bắn mày”, sau đó nhanh chóng rời khỏi trụ sở Tòa án.
“Đó là lần đầu tiên tôi bị một đương sự đe dọa ngay sau khi tuyên án. Lúc ở phiên tòa, mình vẫn phải giữ bình tĩnh, nhưng sau đó nói không lo thì không đúng”, ông Đồng nhớ lại. Khi ấy, ông sống một mình tại khu tập thể của cơ quan, trong khi điều kiện bảo đảm an toàn cho cán bộ tư pháp ở địa bàn cơ sở còn hạn chế. Sau khi báo cáo sự việc với lãnh đạo đơn vị và Công an huyện Hải Hà, tối hôm đó và một số buổi tối tiếp theo, ông sang trụ sở VKSND huyện ở bên cạnh để ngủ nhờ.
Vài ngày sau, Công an huyện thông báo đã mời anh L. đến làm việc, sau khi được giải thích, giáo dục, người này viết cam kết chấp hành pháp luật và quyết định của Tòa án, sau đó được giao cho công an địa phương tiếp tục quản lý, sự việc từ đó không phát sinh thêm.
Nhìn lại vụ án đầu tay, ông Đồng cho rằng phía sau lời đe dọa là một câu chuyện đáng suy ngẫm về tảo hôn, việc chung sống không đăng ký kết hôn, tư tưởng gia trưởng và bạo lực gia đình. Cách nghĩ của người chồng rằng đã bỏ “bạc trắng, trâu bò” để cưới vợ nên người phụ nữ phải mãi thuộc về mình cũng cho thấy khoảng cách giữa tập quán lâu đời với những quy định của pháp luật.
Với người Thẩm phán trẻ năm ấy, vụ án còn là bài học đầu tiên về những áp lực không có trong bất kỳ trang hồ sơ nào, một phiên tòa có thể được chuẩn bị kỹ về chứng cứ và căn cứ pháp luật, nhưng phản ứng của con người sau mỗi phán quyết không phải lúc nào cũng có thể lường trước.
Hơn hai mươi năm sau, ông Nguyễn Văn Đồng đã trải qua nhiều vị trí công tác và giải quyết những vụ án phức tạp hơn, nhưng phiên tòa ngày 21/7/2004 vẫn là một dấu mốc riêng trong cuộc đời làm nghề. Không chỉ bởi lời đe dọa của bị đơn, mà bởi từ vụ án đầu tiên ấy, ông bắt đầu hiểu rõ hơn sức nặng của một phán quyết và bản lĩnh cần có của người ngồi trên ghế xét xử.
Trang Vân
1 giờ trước
37 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
5 giờ trước