Phía sau những tấm ảnh
Ngàn ngày chờ bình minh
Vừa bước vào phòng trưng bày hình ảnh và hiện vật của 64 liệt sĩ Gạc Ma ở Cam Lâm, Khánh Hòa, tấm ảnh màu đầu tiên được đặt ngay cửa ra vào, tôi lập tức nhớ ngay đến cựu chiến binh Phạm Văn Nhân, người lính sống sót trở về từ nhà tù ở Trung Quốc sau hơn 1.000 ngày đêm, để rồi trở thành “lão nông” suốt ngày quần quật với 4,7 sào ruộng lúa đồng bằng Bắc Bộ.
Nhớ một ngày cuối năm 2016, các cựu chiến binh trong trận Gạc Ma đã tề tựu tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng để gặp mặt cựu chiến binh Dương Văn Dũng đang mắc bệnh hiểm nghèo. Dịp ấy, ông Nhân tất tả nhảy xe đò từ Nam Định về với đồng đội, với chất giọng và cử chỉ của một lão nông, đã tiếp thêm sức mạnh cho đồng đội trong cuộc chiến sinh tử cuối cùng với bệnh tật.

Một ngư dân xã Bình Châu cầm vợt và pin nhảy lặn xuống bắt cá sát đảo Gạc Ma. Ảnh: Lê Văn Chương
Gia đình ông Nhân có 9 anh chị em, năm 1991, rời khỏi nơi giam giữ trở về, chàng thanh niên 24 tuổi bắt tay vào việc đồng áng. Người cha thương con đã giao luôn 3 phần ruộng để con trai cấy cày. Vậy rồi những luống cày, mùa gặt hái, giọt mồ hôi đổ xuống, tháng ngày trên đồng đã làm sạm dần nước da. Duy chỉ có Gạc Ma thì hàng đêm vẫn khắc khoải trong ông.
Các đoàn công tác khi ra tới đảo Cô Lin (cạnh đảo Gạc Ma) thường tổ chức Lễ truy điệu các Anh hùng liệt sĩ. Bài điếu văn thường dành hơn một nửa để “tự sự, tâm tình” với linh hồn những người đã khuất và trong đó có đoạn “Trường Sa hôm nay đã thay đổi về diện mạo. Nhưng Trường Sa vẫn chưa thực sự bình yên, vẫn còn nhiều khó khăn, gian khổ, cán bộ, chiến sĩ vẫn âm thầm hy sinh tuổi thanh xuân của mình để trụ vững nơi đầu sóng ngọn gió”.
Ông hồi tưởng những ngày bị giam giữ, binh nhất Trần Thiên Phụng, sinh năm 1963 là người lính đã có gia đình, hàng ngày anh lấy nhọ nồi vẽ hình vợ và con lên bức tường lạnh lẽo. Còn người lính 21 tuổi Phạm Văn Nhân thì luôn ấp ủ kế vượt ngục, vì cậu lính trẻ luôn nghĩ, “ngày nào cũng như ngày nào, chắc chết rũ xương trong nhà tù”.
Rồi cậu Nhân nhanh trí, vượt ngục thành công, gặp ô tô cứ vẫy, chỉ đi ô tô chạy về hướng Nam để tìm đường về qua hướng Quảng Nam, Nam Định. Nhưng khi sắp về tới biên giới Việt Nam thì người tù Gạc Ma đã không may bị bắt trở lại…
Kỷ vật từ đáy biển

Thượng úy Đoàn Đức Nhật, sinh năm 1997, cán bộ Đồn Biên phòng Cam Hải Đông bên di ảnh các Anh hùng liệt sĩ Gạc Ma. Ảnh: Lê Văn Chương
Trong nhà trưng bày ở Khu tưởng niệm Chiến sĩ Gạc Ma ở xã Cam Lâm, Khánh Hòa có một chiếc tủ đựng đôi dép lính, quần áo, lưỡi cuốc chim, mặt nạ, pháo hiệu… là những hiện vật từ tàu HQ 604 được ngư dân trục vớt. Tôi nhớ trong cuốn sổ nhật ký đi biển của ông Nguyễn Quốc Chinh, nguyên Chủ tịch nghiệp đoàn nghề cá đặc khu Lý Sơn có ghi chép khá tỉ mỉ các tọa độ ông từng đặt chân đến. Có một cụm tọa độ trong cuốn sổ ghi chép này khiến tôi tò mò: “Giữa Chữ Thập, đông bắc Chữ Thập, đèn ngoài Chữ Thập…”.
Ông Chinh cho biết, sau sự kiện Gạc Ma ngày 14/3/1988, bộ đội Hải quân của ta tập trung xây dựng nhà ở đảo Cô Lin nằm ở sát nách Gạc Ma. Ngư dân Nguyễn Văn Thiện, quê ở xã Bình Châu (nay là xã Đông Sơn), tỉnh Quảng Ngãi kể lại, ngư dân Lý Sơn làm nghề lặn ban ngày nên tiếp cận đảo rất khó, còn ngư dân xã Bình Châu thì chuyên làm nghề lặn đêm, lúc 1 giờ sáng thì ngư dân vô sát chân đảo Gạc Ma. Thời đó ngư dân đã nhìn thấy chiếc tàu bị đắm và sau này hỏi ra thì mọi người nói là tàu Hải quân HQ 604.
Mãi đến năm 2008, tàu QNg 96219 TS, do ông Võ Văn Chức (quê ở đặc khu Lý Sơn, Quảng Ngãi) làm thuyền trưởng, chuyên lặn vớt sắt ở các con tàu đắm đã tiếp cận vị trí tàu HQ 604. Đội ngư dân trên tàu của ông Chức từng đi lặn và trục vớt tàu sắt ở những tọa độ nguy hiểm, đó là gần các đảo nổi ở quần đảo Hoàng Sa. Vậy nên khi tàu áp sát đảo Gạc Ma để lặn, lính Trung Quốc đã uy hiếp, nhưng các ngư dân vẫn không cho tàu chạy và ra hiệu lặn vớt xác người.
Khi lặn xuống biển ở độ sâu 20 mét, các ngư dân đã vào khoang tàu và nhìn thấy nhiều vật dụng, quân tư trang của bộ đội, trong đó có dép nhựa Tiền Phong màu trắng. Lần ấy, khi vớt hài cốt và đưa lên tàu, công việc gần kết thúc thì ngư dân Phạm Vinh tử nạn dưới đáy biển.
Ðêm nằm ở Gạc Ma

Cựu chiến binh Phạm Văn Nhân đi giữa 2 đồng đội Gạc Ma. Ảnh: Lê Văn Chương
Vừa nhìn thấy tấm ảnh có ghi tọa độ đảo Gạc Ma, Chữ Thập, thuyền trưởng Nguyễn Hữu Quang mở thiết bị giám sát hành trình, máy định dạng và tìm lại hải trình của tàu của mình cùng các tàu đánh cá tại nơi mà ngư dân xem như “tam giác quỷ”. Anh Quang cho biết, đảo Gạc Ma có địa hình hơi hiểm, sát đảo là một triền san hô rộng giống như bậc thềm của đảo, nhưng sau đó là vách thẳng đứng, dựng ngược, sâu hàng trăm mét.
Đảo Chữ Thập, nơi Trung Quốc đã mở rộng, hiện vẫn đang là ngư trường rất sôi động của ngư dân. Thuyền trưởng Quang cho biết, lặn xuống đáy biển ở độ sâu từ 20-40 mét, khu vực này cũng khá giống đáy biển ở các đảo Đá Lồi, Đá Hải Sâm, Quang Ảnh, Hữu Nhật ở quần đảo Hoàng Sa, hoặc bãi cạn nằm gần đảo Linh Côn, quần đảo Hoàng Sa. Đó là đáy biển có nhiều san hô, có vô số bãi cồn nhưng không có cát, chỉ có đá vôi, san hô chết, những bãi cạn rất nhỏ nổi lô nhô khi thủy triều rút. Các loại cá mú, tôm hùm, tôm mũ ni, cua huỳnh đế, hải sâm, cá dóc…sinh sôi nảy nở quanh năm.
Các ngư dân cho biết, nếu thuyền trưởng nào không nắm rõ đường đi thì sẽ đâm tàu vào các cồn đá chìm đắm, còn ngư dân Bình Châu đã quen thuộc nơi này đã mấy chục năm. Mỗi khi vào phiên lặn, ngư dân đều lập bàn thờ cúng thần biển, nhắc tới những linh hồn những người lính đã nằm lại dưới vùng biển Gạc Ma.
Lê Văn Chương
1 giờ trước
35 phút trước
1 giờ trước
19 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước