🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Phát triển công nghệ Việt để phát hiện sớm ung thư đường tiêu hóa

56 phút trước
Trí tuệ nhân tạo đang mở ra cơ hội phát hiện sớm những tổn thương ung thư đường tiêu hóa vốn khó nhận diện. Các nhà khoa học Việt Nam đã phát triển thành công thuật toán hỗ trợ phát hiện đồng thời nhiều loại tổn thương qua nội soi, được cấp bằng độc quyền sáng chế và bước đầu ứng dụng tại các cơ sở y tế.

Hiện nay, sự phát triển của các hệ thống nội soi độ phân giải cao, công nghệ nhuộm màu ảo, phóng đại hình ảnh và các chế độ ánh sáng đặc biệt đã giúp bác sĩ nhận diện rõ hơn những bất thường của niêm mạc đường tiêu hóa. (Ảnh: Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật)

Ngày 25/10, tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật và Phòng khám đa khoa Hoàng Long tổ chức Hội nghị khoa học quốc tế “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, nhân kỷ niệm 8 năm thành lập viện.

Hội nghị quy tụ nhiều chuyên gia, nhà khoa học: chuyên gia Chen-Shuan Chung (Đài Loan, Trung Quốc), Tomoaki Matsumura (Nhật Bản), Alex Leow và Chuah Kee Huat (Malaysia), Yuen Man Fung (Hồng Kông, Trung Quốc), Ying-Hsiu Su (Hoa Kỳ) cùng các chuyên gia Việt Nam, cùng hàng trăm bác sĩ, giảng viên, học viên trong lĩnh vực tiêu hóa, gan mật.

Hội nghị tập trung cập nhật những tiến bộ trong nội soi can thiệp, quản lý bệnh viêm ruột, viêm gan B, hội chứng ruột kích thích và các dấu ấn sinh học mới trong phát hiện ung thư gan; đồng thời thúc đẩy hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và ứng dụng các thành tựu khoa học vào thực tiễn điều trị.

Công nghệ mới mở ra cơ hội phát hiện sớm ung thư

Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Đào Văn Long, Chủ tịch Hội đồng sáng lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật, Chủ tịch Hội đồng Quản lý Hệ thống y tế Hoàng Long cho biết, phát hiện sớm ung thư luôn là một trong những mục tiêu quan trọng của y học. Đặc biệt, đối với ung thư đường tiêu hóa, nếu phát hiện ở giai đoạn phù hợp, nhiều tổn thương có thể được cắt bỏ hoàn toàn qua nội soi mà người bệnh không cần trải qua phẫu thuật hoặc hóa trị.

Theo Giáo sư Đào Văn Long, trước đây, các hệ thống nội soi có độ phân giải thấp, khả năng quan sát và phóng đại hình ảnh còn hạn chế. Khi phát hiện tổn thương nghi ngờ, bác sĩ thường phải tiến hành sinh thiết để có thêm cơ sở chẩn đoán.

Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Đào Văn Long, Chủ tịch Hội đồng sáng lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật, Chủ tịch Hội đồng Quản lý Hệ thống y tế Hoàng Long phát biểu khai mạc.

Hiện nay, sự phát triển của các hệ thống nội soi độ phân giải cao, công nghệ nhuộm màu ảo, phóng đại hình ảnh và các chế độ ánh sáng đặc biệt đã giúp bác sĩ nhận diện rõ hơn những bất thường của niêm mạc đường tiêu hóa.

Tại Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật, các bác sĩ đã ứng dụng những công nghệ này để hỗ trợ phát hiện tổn thương ung thư giai đoạn sớm. Khi quan sát thấy vùng niêm mạc nghi ngờ, bác sĩ có thể sử dụng chế độ ánh sáng chuyên biệt kết hợp phóng đại để đánh giá cấu trúc bề mặt, đặc điểm tổn thương, từ đó đưa ra nhận định và lựa chọn phương pháp xử trí phù hợp.

Đáng chú ý, khả năng phát hiện tổn thương còn được hỗ trợ bởi các phần mềm trí tuệ nhân tạo.

“Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo có thể giúp nâng cao độ chính xác, độ nhạy, độ đặc hiệu trong phát hiện tổn thương, rút ngắn thời gian nhận diện và giảm sự phụ thuộc vào kinh nghiệm của từng bác sĩ nội soi”, Giáo sư Đào Văn Long chia sẻ.

Theo ông, trước đây, việc nhận diện những tổn thương rất nhỏ hoặc có biểu hiện không điển hình thường đòi hỏi bác sĩ nội soi có nhiều kinh nghiệm. Với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo, khả năng phát hiện các tổn thương nghi ngờ có thể được cải thiện, góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán tại các cơ sở y tế.

Một kết quả nghiên cứu đáng chú ý của Viện là đề tài cấp nhà nước về chuyển đổi số trong lĩnh vực tiêu hóa, gan mật, trong đó phát triển thuật toán trí tuệ nhân tạo hỗ trợ phát hiện và phân loại tổn thương trên hình ảnh nội soi.

Tháng 5/2026, Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ đã cấp bằng độc quyền sáng chế theo Quyết định số 73364/QĐ-SHTT cho sáng chế “Phương pháp đa nhiệm tự động phát hiện và phân loại tổn thương từ luồng video nội soi đường tiêu hóa trên”.

Hệ thống được nghiên cứu nhằm hỗ trợ phát hiện 5 nhóm tổn thương, gồm viêm thực quản trào ngược, ung thư thực quản, ung thư dạ dày, viêm dạ dày và loét hành tá tràng.

Điểm đáng chú ý là phần mềm có khả năng nhận diện nhiều loại tổn thương trong cùng một lần nội soi, thay vì chỉ tập trung vào một hoặc hai loại tổn thương như một số hệ thống thương mại.

Theo nhóm nghiên cứu, mục tiêu là phát triển sản phẩm do Việt Nam làm chủ công nghệ, phù hợp với đặc điểm bệnh lý của người Việt Nam, có khả năng tích hợp với nhiều hệ thống nội soi khác nhau và chi phí hợp lý hơn.

Kết quả bước đầu đã được ứng dụng tại một số cơ sở y tế, trong đó có Phòng khám đa khoa Hoàng Long và Bệnh viện Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương.

Qua quá trình sử dụng và so sánh với một số hệ thống trí tuệ nhân tạo thương mại quốc tế, nhóm nghiên cứu ghi nhận những kết quả tích cực về độ chính xác, độ trễ xử lý hình ảnh và mức độ hài lòng của bác sĩ.

Tuy nhiên, việc đưa sản phẩm nghiên cứu vào ứng dụng rộng rãi vẫn còn nhiều khó khăn.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Đào Việt Hằng, Phó Giám đốc Trung tâm Nội soi, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật, hướng nghiên cứu phát hiện DNA khối u lưu hành trong nước tiểu (ctDNA) của viện đang được kỳ vọng hỗ trợ phát hiện ung thư gan sớm hơn, nhất là ở những bệnh nhân có AFP âm tính.

Không chỉ trong nội soi, các công nghệ mới còn mở ra triển vọng phát hiện sớm ung thư gan. Ung thư gan vẫn là một trong những bệnh lý ác tính phổ biến tại Việt Nam nhưng lo ngại là nhiều bệnh nhân chỉ được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn tiến triển.

Theo các nghiên cứu được chuyên gia dẫn lại, khoảng 50-80% bệnh nhân ung thư gan được phát hiện ở giai đoạn tiến triển. Một trong những nguyên nhân là bệnh thường xuất hiện trên nền viêm gan B, viêm gan C hoặc các bệnh gan mạn tính khác, trong khi giai đoạn đầu có thể không xuất hiện triệu chứng rõ ràng.

Thực tế này cho thấy sự cần thiết phải tăng cường quản lý, theo dõi người bệnh gan mạn tính và ứng dụng các phương pháp tầm soát hiệu quả hơn.

Bên cạnh dấu ấn sinh học AFP truyền thống, nhiều cơ sở y tế đã tiếp cận các xét nghiệm như AFP-L3, PIVKA-II và những dấu ấn sinh học mới.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Đào Việt Hằng, Phó Giám đốc Trung tâm Nội soi, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật, hướng nghiên cứu phát hiện DNA khối u lưu hành trong nước tiểu (ctDNA) của viện đang được kỳ vọng hỗ trợ phát hiện ung thư gan sớm hơn, nhất là ở những bệnh nhân có AFP âm tính.

Toàn cảnh hội thảo.

"Chúng tôi hy vọng thông qua đề tài nghiên cứu này, bên cạnh việc chứng minh giá trị của dấu ấn sinh học mới, nhóm nghiên cứu có thể góp phần giảm chi phí xét nghiệm. Khi đó, nếu được ứng dụng rộng rãi, người bệnh ung thư gan tại Việt Nam sẽ có thêm cơ hội tiếp cận những tiến bộ của y học hiện đại", bác sĩ Hằng chia sẻ.

Đưa kết quả nghiên cứu đến các cơ sở y tế

Bên cạnh những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị, hội nghị cũng là dịp nhìn lại các kết quả nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao kỹ thuật của Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật sau 8 năm hoạt động.

Ngoài triển khai các nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực, một trong những hoạt động đáng chú ý là hỗ trợ nâng cao năng lực khám, chữa bệnh cho các bệnh viện địa phương.

Trong giai đoạn 2025-2026, viện đã tham gia trao tặng hệ thống nội soi FUJIFILM ELUXEO LITE 6000 cho 10 bệnh viện trên cả nước, đồng thời đào tạo kỹ thuật nội soi cho 14 bác sĩ và 12 điều dưỡng, kỹ thuật viên từ các cơ sở tiếp nhận thiết bị.

Theo Giáo sư Đào Văn Long, tính đến nay, gia đình và viện đã thực hiện 24 lượt trao tặng trang thiết bị cho 22 bệnh viện, bao gồm 12 dàn nội soi, 12 máy siêu âm hiện đại và một số thiết bị khác.

Đặc biệt, viện đã chuyển giao thành công kỹ thuật đo áp lực và nhu động thực quản độ phân giải cao cho Bệnh viện 22-12 tại Nha Trang, góp phần hỗ trợ chẩn đoán các rối loạn vận động thực quản.

Trong lĩnh vực quản lý bệnh mạn tính tại cộng đồng, viện triển khai dự án quản lý bệnh gan mạn và tầm soát ung thư gan bằng hệ thống siêu âm ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại nhiều địa phương như Lào Cai, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Hà Tĩnh và Huế.

Dự án HBVCare cũng đã phát triển ứng dụng trên nền tảng iOS và Android nhằm hỗ trợ người bệnh và gia đình quản lý bệnh viêm gan B, được triển khai tại 5 tỉnh, thành phố.

Theo Giáo sư Đào Văn Long, từ năm 2027, viện sẽ ưu tiên đưa những kết quả nghiên cứu vào thực tiễn lâm sàng, trong đó có kế hoạch chuyển giao phần mềm trí tuệ nhân tạo hỗ trợ nội soi đến các cơ sở y tế, trước mắt là những bệnh viện đã được trao tặng thiết bị.

Nhiều kỹ thuật được chuyển giao cho tuyến dưới.

Cùng với đó, viện dự kiến phối hợp với Trường đại học Y Hà Nội thành lập một trung tâm xuất sắc trong lĩnh vực tiêu hóa, đồng thời nghiên cứu phát triển một số thiết bị phục vụ nội soi như máy bơm khí CO2, máy bơm nước, hệ thống rửa và khử khuẩn nội soi.

Một hướng nghiên cứu khác là hệ vi sinh đường ruột và phát triển các chủng lợi khuẩn phù hợp với người Việt Nam.

Viện cũng đã phối hợp với Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ, Đại học Harvard, Đại học Hồng Kông (Trung Quốc) và một số đối tác quốc tế nghiên cứu, giải trình tự gene hệ vi sinh đường ruột của người Việt Nam.

Trên cơ sở dữ liệu thu được, các nhà khoa học mong muốn tiếp tục nghiên cứu, phát triển những sản phẩm probiotic có khả năng ứng dụng trong chăm sóc sức khỏe.

"Một hướng nghiên cứu khác mà chúng tôi đang triển khai là bệnh viêm ruột mạn tính (Inflammatory Bowel Disease - IBD). Đây đều là những lĩnh vực nghiên cứu lớn, đòi hỏi sự phối hợp giữa các nhà khoa học của nhiều quốc gia, trong đó có sự tham gia của Việt Nam", Giáo sư Long cho hay.

THIÊN LAM

TIN LIÊN QUAN














Home Icon VỀ TRANG CHỦ