🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Phát triển bền vững thủy sản ĐBSCL, hãy đổi mới quản lý nước ven biển

22 ngày trước
Ứng dụng quan trắc tự động, dữ liệu mở, mô hình tôm-rừng và tôm-lúa cải tiến giúp kiểm soát môi trường nuôi, giảm dịch bệnh, tăng thu nhập bền vững.

Môi trường nước rất quan trọng với nghề nuôi tôm ven biển - Ảnh: V.K.K

Quản lý nước – yếu tố quyết định thành bại vụ nuôi

Biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước đang tạo áp lực ngày càng lớn lên hoạt động nuôi trồng thủy sản ven biển tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Trong bối cảnh đó, khoa học công nghệ (KHCN) và chuyển đổi số được xem là “đòn bẩy” quan trọng, giúp ngành thủy sản chuyển từ phương thức nuôi dựa vào kinh nghiệm sang nuôi dựa trên dữ liệu, quản lý thông minh và các mô hình sinh thái bền vững.

Theo bà Michaela Baur, Giám đốc Quốc gia GIZ tại Việt Nam, nước trong nuôi thủy sản không chỉ là môi trường sống mà còn là yếu tố quyết định trực tiếp sức khỏe tôm cá. Khi các chỉ số như độ mặn, pH, nhiệt độ hay oxy hòa tan biến động bất thường, vật nuôi có thể sốc môi trường, giảm ăn, suy yếu và dẫn đến nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Thực tế cho thấy, nhiều vụ nuôi thất bại tại ĐBSCL bắt nguồn từ sự thay đổi chất lượng nước nhưng người dân không kịp phát hiện và xử lý.

Nhằm tháo gỡ “nút thắt” này, Dự án “Thích ứng với biến đổi khí hậu vùng ĐBSCL” (MCRP) đã triển khai nhiều giải pháp đổi mới sáng tạo, với mục tiêu bảo vệ sông ngòi, vùng ven biển và cộng đồng, đồng thời củng cố khả năng thích ứng của khu vực nông thôn trước biến đổi khí hậu. Dự án là kết quả hợp tác 3 bên Việt Nam, Đức và Thụy sĩ, góp phần đưa KHCN trở thành nền tảng cho quản lý nước và phát triển thủy sản bền vững.

Một trong những nội dung quan trọng của dự án là hỗ trợ cải thiện quản lý chất lượng nước, thúc đẩy sử dụng con giống khỏe mạnh và chế phẩm sinh học, đồng thời tổ chức đào tạo, tập huấn kỹ thuật cho nông dân. Điểm đáng chú ý là dự án khuyến khích sự tham gia chủ động của phụ nữ trong sản xuất và quản lý mô hình, góp phần nâng cao năng lực cộng đồng và tính bền vững xã hội trong phát triển sinh kế ven biển.

Ông Lê Quang Răng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT)tỉnh Vĩnh Long cho biết, một hướng đi được đánh giá cao là thúc đẩy mô hình tôm-rừng bền vững thông qua đổi mới quản lý và cải thiện chất lượng nước. Đây là mô hình mang tính “sinh thái kép”: vừa tạo thu nhập cho người dân, vừa góp phần bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn, vốn đóng vai trò quan trọng trong phòng chống sạt lở bờ biển, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai.

Thu hoạch từ tôm - lúa ở Cà Mau - Ảnh: T.L

Dữ liệu tổng hợp từ dự án cho thấy, MCRP đã đào tạo 100 giảng viên nguồn, triển khai 13 mô hình thí điểm, tổ chức tập huấn cho 2.700 nông dân, với tổng diện tích áp dụng lên đến 6.000 ha. Hiệu quả kinh tế thể hiện rõ khi tỉ lệ sống của tôm đạt 80-95%, sản lượng thu hoạch đạt 300 kg/ha và tổng sản lượng tăng +45%. Đặc biệt, thu nhập của các hộ tham gia tăng khoảng 25%, cho thấy lợi ích trực tiếp từ việc quản lý nước theo quy trình khoa học, giúp giảm rủi ro và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Quan trắc tự động và dữ liệu mở: chuyển đổi số ngành nước

Bên cạnh mô hình sinh thái, dự án còn thúc đẩy chuyển đổi số ngành nước thông qua hệ thống quan trắc tự động. Nếu trước đây người nuôi chủ yếu “đoán” chất lượng nước qua màu nước hoặc kinh nghiệm, thì hiện nay dữ liệu quan trắc thời gian thực đã giúp việc quản lý môi trường nuôi trở nên chính xác và chủ động hơn.

Dự án MCRP đã xây dựng 21 trạm quan trắc tự động tại 2 tỉnh Cà Mau và Cần Thơ, liên tục thu thập dữ liệu bằng cảm biến hiện đại. Các thông số quan trọng như mực nước, độ mặn, độ pH, nhiệt độ được theo dõi tự động theo thời gian thực và lưu trữ phục vụ phân tích dài hạn. Điểm nổi bật là dữ liệu nguồn nước, bao gồm dữ liệu thời gian thực và dữ liệu lịch sử, được công khai và có thể truy cập trực tuyến thông qua ứng dụng di động “Nguồn nước Cửu Long”. Đây được xem là bước tiến quan trọng trong quản lý nước dựa trên dữ liệu mở, giúp người dân, doanh nghiệp và cơ quan quản lý đưa ra quyết định phù hợp.

Kết quả thực tế cho thấy hệ thống quan trắc góp phần giúp 281.521 ha đất nông nghiệp được bảo vệ tốt hơn và 399.088 người dân được hưởng lợi. Theo đánh giá của dự án, đây là mô hình điểm về đổi mới sáng tạo, có tiềm năng nhân rộng tại các địa phương và thu hút sự quan tâm của các tổ chức quốc tế.

Tôm rừng Cà Mau - Ảnh: T.L

Không chỉ tập trung vào tôm-rừng, dự án còn thúc đẩy mô hình tôm-lúa cải tiến tại tỉnh Cà Mau, hướng đến sản xuất bền vững và tăng khả năng tiếp cận thị trường. Các giải pháp được áp dụng gồm: quản lý nước linh hoạt, sử dụng con giống chất lượng cao và chế phẩm sinh học, nâng cao năng lực kỹ thuật và kỹ năng quản lý cho nông dân, kết nối doanh nghiệp thu mua và hướng tới chứng nhận quốc tế.

Kết quả ghi nhận cho thấy 592 nông dân được tập huấn kỹ thuật, 150 hộ dân đạt chứng chỉ hữu cơ và BAP, và 150 hợp đồng thu mua được ký kết. Đặc biệt, có 609 ha tôm-lúa đạt chứng chỉ BAP (2024) và 1.200 ha tôm-lúa hữu cơ được phát triển. Dự án cũng huy động thêm 85.000 Euro nhằm nhân rộng mô hình, cho thấy khả năng lan tỏa mạnh mẽ của hướng đi này.

Ông Tạ Hoàng Nhiệm, Giám đốc HTX nuôi tôm Đông Hải (Cà Mau) cho biết, dự án MCRP đem lại những lợi ích thiết thực cho người nuôi tôm ven biển. Tham gia dự án xã viên được tập huấn, được hỗ trợ kỹ thuật về phát triển bền vững. Hiệu quả của dự án giúp nông dân tăng gia sản lượng, chất lượng tôm và bán được giá tốt tại những điểm thu mua của chương trình do dây là “tôm Xanh”

Đập tạm công nghệ mới: giải pháp linh hoạt ứng phó hạn mặn

Một giải pháp công trình đáng chú ý là đập tạm công nghệ mới, giúp ứng phó hạn mặn theo hướng linh hoạt. Ông Trần Quốc Thống, Phó giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Cà Mau cho biết, đập được thiết kế mô-đun, có thể tái sử dụng, thân thiện môi trường và tiết kiệm chi phí. Theo tài liệu dự án, chỉ cần khoảng 2 tuần để thi công và đưa vào vận hành. Đập có thể đóng - mở linh hoạt, vừa đảm bảo giao thông thủy vừa duy trì lưu thông dòng chảy, giảm tác động tiêu cực đến hệ sinh thái.

Dự án đã xây dựng 2 đập tạm tại Cà Mau, giúp 80 hộ gia đình được hưởng lợi và bảo vệ 120 ha đất nông nghiệp. Đáng chú ý, có đến hàng triệu Euro được đầu tư từ chính các quyền địa phương để nhân rộng mô hình, cho thấy tính hiệu quả và khả năng ứng dụng thực tiễn cao.

Những trạm quan trắc dự án GIZ ven biển Cà Mau - Ảnh: T.L

Song song đó, dự án phát triển Cơ sở dữ liệu ngành nước ĐBSCL (MD-WADS) nhằm khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, thiếu đồng bộ giữa các ngành. Hệ thống được vận hành thí điểm tại 3 tỉnh, đồng bộ dữ liệu của 3 ngành: Nông nghiệp, Môi trường và Khí tượng - Thủy văn, tích hợp vào cổng thông tin điện tử của Sở Nông nghiệp và Môi trường, tạo truy cập mở cho nhiều nhóm người dùng.

Ngoài ra, dự án triển khai Hệ thống giám sát bờ biển (CMS) tại 05 tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau, đồng thời nâng cấp Hệ thống giám sát thiên tai Việt Nam (VNDMS) và thiết lập 17 trạm giám sát tích hợp camera và cảm biến thời tiết, cung cấp dữ liệu thời gian thực phục vụ phòng chống thiên tai.

Ông Nguyễn Văn Tiến, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, Bộ NN&MT nhận định, kết quả từ MCRP cho thấy quản lý nước và môi trường nuôi thủy sản ven biển ĐBSCL đang chuyển dịch theo hướng hiện đại, kết hợp công nghệ số, dữ liệu mở, giải pháp công trình linh hoạt và mô hình sinh thái.

Từ những kết quả đạt được, có thể thấy nếu tiếp tục nhân rộng các mô hình tôm-rừng, tôm-lúa cải tiến, đập tạm công nghệ mới và các nền tảng dữ liệu như “Nguồn nước Cửu Long”, MD-WADS, vùng ven biển ĐBSCL hoàn toàn có thể xây dựng hệ thống nuôi thủy sản xanh, thích ứng dài hạn trước biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

Văn Kim Khanh

Home Icon VỀ TRANG CHỦ