🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Phát huy tinh thần đại đoàn kết và văn hóa Việt trong kỷ nguyên mới

1 giờ trước
Nhân dịp Giỗ Tổ Hùng Vương, khi hàng triệu người dân cùng hướng về cội nguồn, ý nghĩa của việc gìn giữ và phát huy các giá trị di sản, trong đó có tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, càng được nhấn mạnh. Đây không chỉ là nét đẹp văn hóa mà còn là nguồn lực quan trọng góp phần phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Đây cũng là nội dung chính trong Chương trình thời sự với chủ đề “Phát huy tinh thần đại đoàn kết và văn hóa Việt trong kỷ nguyên mới” do Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội thực hiện vào 18h30 ngày 26-4.

Lễ dâng hương của nhân dân cả nước tại Đền Hùng trong ngày Giỗ Tổ Hùng Vương. Ảnh: S.T

Tham gia Chương trình có các chuyên gia, nhà quản lý trong lĩnh vực văn hóa: PGS.TS Phạm Quang Long, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội và TS. Phạm Cao Quý, Trưởng phòng Quản lý Di sản văn hóa phi vật thể, Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch). Chương trình mang đến những góc nhìn sâu sắc về vai trò của văn hóa và sức mạnh đại đoàn kết trong kỷ nguyên mới.

Các khách mời tham dự Chương trình thời sự. Ảnh: Thanh Hải

Chương trình tập trung phân tích vai trò của văn hóa trong việc gắn kết cộng đồng, khẳng định tinh thần đại đoàn kết - giá trị cốt lõi đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử dân tộc. Trong dòng chảy ấy, văn hóa được nhìn nhận là cội nguồn, là sợi dây bền chặt kết nối mỗi người Việt với tổ tiên, cộng đồng và tương lai.

Đồng thời, việc phát huy giá trị văn hóa dân tộc trong thời đại mới còn gắn với định hướng của Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa và con người Việt Nam, trong đó nhấn mạnh yêu cầu đưa di sản trở thành nguồn lực nội sinh, thúc đẩy phát triển đất nước bền vững.

Đại đoàn kết: Giá trị từ thực tiễn, bền sâu trong tâm thức dân tộc

PGS.TS Phạm Quang Long, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội. Ảnh: Thanh Hải

PGS.TS Phạm Quang Long, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội cho rằng, tinh thần đại đoàn kết dân tộc không phải là một khái niệm trừu tượng, mà hình thành từ chính thực tiễn lịch sử và đời sống của người Việt.

Theo ông, mọi lý thuyết, quan niệm đều nảy sinh từ thực tiễn và nhằm giải quyết những vấn đề của thực tiễn. Trong quá trình đó, những giá trị nào có ích cho xã hội, cho lịch sử thì sẽ được duy trì lâu dài, còn những gì không phù hợp sẽ dần bị đào thải.

“Tinh thần đại đoàn kết toàn dân, tinh thần cùng chia sẻ, cùng gánh vác trách nhiệm cộng đồng bắt nguồn từ chính yêu cầu của đời sống: Làm sao để mạnh hơn, để chiến thắng kẻ thù, để vượt qua những trở ngại của thiên nhiên”, ông Phạm Quang Long nói.

Từ những đòi hỏi đó, ý thức đoàn kết, tinh thần cộng đồng được hình thành và bồi đắp qua thời gian. Không chỉ dừng lại ở yếu tố thực tiễn, giá trị này còn phát triển thành một nét văn hóa đặc trưng trong truyền thống giữ nước của dân tộc. Điều đáng nói là tinh thần ấy dần trở thành một giá trị nhân văn, một tâm thế của cả dân tộc và tồn tại suốt hàng nghìn năm.

Dấu ấn của tinh thần đoàn kết thể hiện rõ trong kho tàng văn hóa dân gian, đặc biệt là hệ thống thành ngữ, tục ngữ về tình cảm gia đình, anh em, làng xóm, như: “Anh em như thể tay chân”, “Chị ngã em nâng”, “Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”, “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”...

Những quan niệm này xuất phát từ nhận thức rằng trong quan hệ thân tộc, con người dễ chia sẻ, dễ hợp tác và gắn bó hơn. “Người ta gọi đó là "việc nhà", tức là việc chung mà mọi người cùng chung tay, không tính toán thiệt hơn”, ông Phạm Quang Long phân tích.

Từ nền tảng gia đình, dòng tộc, tinh thần ấy được mở rộng ra cộng đồng, quốc gia. “Từ việc nhà ra việc nước, nguyên lý vẫn như vậy: cùng chung tay, cùng gánh vác”, ông nói.

PGS.TS Phạm Quang Long, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội cũng nhấn mạnh, truyền thống đại đoàn kết còn bắt nguồn từ tâm thức dân tộc, thể hiện qua các huyền tích như Con Rồng Cháu Tiên - biểu tượng cho nguồn gốc chung của cộng đồng người Việt. Cùng với đó là việc tưởng nhớ các Vua Hùng, như một cách nhắc nhở về cội nguồn chung. Tất cả các dân tộc khác nhau đều tự nguyện coi truyền thuyết ấy là của mình, coi đó là câu chuyện về chính dân tộc mình.

Ở góc nhìn hiện đại, nhiều lý thuyết chính trị cũng chỉ ra việc quản trị xã hội hiệu quả khi dựa trên nền tảng quan hệ thân tộc, bởi đây là môi trường dễ tạo đồng thuận. “Những điều tổ tiên chúng ta đúc kết về tinh thần đoàn kết thực sự rất sáng suốt và giàu tính minh triết”, ông Phạm Quang Long nhận định.

Sức sống bền bỉ của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương

Đông đảo du khách về Đền Hùng - nơi được coi là cội nguồn của dân tộc. Ảnh: Hoàng Đức

Trao đổi với phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội, bà Nguyễn Thị Vân Anh, đại diện Ban Quản lý Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đền Hùng (tỉnh Phú Thọ) cho biết, năm 2026 là năm đầu tiên sau khi tỉnh Phú Thọ mới được thành lập trên cơ sở sáp nhập toàn bộ diện tích và dân số của ba tỉnh: Hòa Bình, Vĩnh Phúc và Phú Thọ (cũ), chuỗi hoạt động dịp Giỗ Tổ được tổ chức với quy mô lớn, đa dạng.

Bên cạnh nghi lễ dâng hương, dâng lễ vật truyền thống, nhiều hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc được triển khai, tạo điểm nhấn thu hút du khách. Kỳ nghỉ lễ kéo dài cùng thời tiết thuận lợi khiến lượng người hành hương về đất Tổ tăng mạnh, ước tính tăng khoảng 30% so với năm trước, với hàng triệu lượt khách tham dự.

Bà Nguyễn Thị Vân Anh, đại diện Ban Quản lý Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đền Hùng (tỉnh Phú Thọ).

Nhìn nhận về sức sống và giá trị của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trong đời sống hiện đại, bà Nguyễn Thị Vân Anh khẳng định, không chỉ riêng ngày mùng 10 tháng Ba âm lịch, mà trong suốt cả năm, dòng người vẫn đều đặn hành hương về đất Tổ. Đây không chỉ là hành trình tâm linh mà còn là biểu hiện sinh động của đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” - những giá trị cốt lõi trong văn hóa dân tộc Việt Nam.

Không gian Khu di tích Đền Hùng mang vẻ đẹp thâm nghiêm, hòa quyện giữa cảnh quan thiên nhiên, giá trị lịch sử, nét đặc sắc của văn hóa ẩm thực địa phương, tạo nên sức hấp dẫn riêng có đối với du khách trong và ngoài nước.

Để gìn giữ và lan tỏa giá trị di tích, bà Nguyễn Thị Vân Anh cho biết, việc bảo tồn, phát huy di sản không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan quản lý mà còn là niềm tự hào, trách nhiệm chung của mỗi người dân đất Việt. Từ các thế hệ cao tuổi đến giới trẻ ngày nay đều có những cảm nhận rõ nét về Đền Hùng, không chỉ qua các nền tảng trực tuyến mà còn qua những trải nghiệm thực tế khi tham quan, về nguồn.

Đặc biệt, tỉnh Phú Thọ đã triển khai nhiều sản phẩm du lịch mới nhằm nâng cao trải nghiệm cho du khách, trong đó có tour đêm “Đền Hùng linh thiêng”. Không gian về đêm trở nên lung linh, huyền ảo với ánh sáng nghệ thuật, các chương trình trình diễn văn hóa đặc sắc, mang lại cảm xúc sâu lắng và những kỷ niệm khó quên cho du khách.

Ông Đào Ngọc Thắng (xã Lâm Thao, Phú Thọ).

Còn ông Đào Ngọc Thắng (xã Lâm Thao, Phú Thọ) chia sẻ, trải nghiệm thực tế của ông khi tham gia tour đêm Đền Hùng mang lại cảm nhận rất khác biệt: “Buổi tối không khí đông đúc hơn nhưng cảm nhận về sự linh thiêng càng mạnh hơn, dễ đi vào lòng người, giúp mỗi người thực hành tín ngưỡng một cách trọn vẹn hơn. Với những trải nghiệm như tặng đèn lồng, tham quan không gian lễ hội về đêm, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp lung linh của Khu di tích mà còn có cơ hội cảm nhận sâu sắc bản sắc văn hóa dân tộc, từ đó thêm yêu, thêm tự hào về quê hương, đất nước.

Di sản kết nối cộng đồng, lan tỏa tinh thần đoàn kết toàn cầu

TS. Phạm Cao Quý, Trưởng phòng Quản lý Di sản văn hóa phi vật thể, Cục Di sản Văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch). Ảnh: Thanh Hải

Trong đời sống đương đại, đặc biệt dưới góc nhìn quản lý nhà nước, các di sản văn hóa như tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương giữ vai trò quan trọng trong việc gắn kết cộng đồng và lan tỏa giá trị văn hóa dân tộc.

TS. Phạm Cao Quý, Trưởng phòng Quản lý Di sản văn hóa phi vật thể, Cục Di sản Văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho biết, ngày 6-12-2012, tại phiên họp của Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003 tổ chức ở Paris, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã được ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là di sản thứ 7 của Việt Nam được vinh danh ở thời điểm đó. Đến nay, Việt Nam có 17 di sản được UNESCO ghi danh, trong đó 14 di sản thuộc danh sách đại diện và 3 di sản cần bảo vệ khẩn cấp.

Việc một di sản được ghi danh ở cấp độ quốc tế cho thấy những giá trị văn hóa đặc sắc của Việt Nam đã và đang được bảo tồn hiệu quả, đồng thời có sức lan tỏa rộng rãi. Các di sản được lựa chọn đều mang giá trị tiêu biểu, có ảnh hưởng sâu rộng trong cộng đồng.

Lễ hội Đền Hùng 2026. Ảnh: BTC

Đối với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, điểm đặc biệt nằm ở tiêu chí về tinh thần đoàn kết - một trong những yếu tố nổi bật được UNESCO ghi nhận. Không chỉ đáp ứng các yêu cầu về bảo tồn, thực hành và truyền dạy trong cộng đồng, di sản còn thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc, vượt ra ngoài phạm vi quốc gia.

Theo TS. Phạm Cao Quý, tinh thần đoàn kết được thể hiện qua tín ngưỡng này không chỉ có ý nghĩa đối với cộng đồng người Việt mà còn mang giá trị toàn cầu. Trong bối cảnh thế giới đối mặt với nhiều thách thức như dịch bệnh, xung đột hay biến động xã hội, thông điệp về sự gắn kết, sẻ chia và hợp tác càng trở nên quan trọng. Việc UNESCO ghi danh di sản cũng là cách lan tỏa những giá trị bền vững, nhân văn của dân tộc Việt Nam tới cộng đồng quốc tế.

Một nét đặc trưng khác của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là phạm vi thực hành rộng khắp. Nếu nhiều di sản chỉ gắn với một địa phương hoặc một nhóm cộng đồng nhất định, thì tín ngưỡng này có sự tham gia của đông đảo người dân trên cả nước, kể cả cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Dù sinh sống ở đâu, các thế hệ người Việt vẫn hướng về cội nguồn với chung một niềm tri ân các Vua Hùng.

Vì vậy, việc được UNESCO ghi danh không chỉ là niềm tự hào của cộng đồng cư dân vùng Đền Hùng - chủ thể trực tiếp của di sản, mà còn là niềm tự hào chung của cả dân tộc. Giá trị của di sản không chỉ nằm ở yếu tố văn hóa truyền thống, mà còn ở sức mạnh gắn kết cộng đồng và thông điệp nhân văn mang tính toàn cầu.

Tinh thần đại đoàn kết là "sức mạnh mềm" từ tâm thức và di sản dân tộc

PGS.TS Phạm Quang Long, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội. Ảnh: Thanh Hải

PGS.TS Phạm Quang Long, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội cho rằng, tinh thần đại đoàn kết dân tộc là một giá trị nhiều chiều, bắt nguồn từ tâm thức chung của cộng đồng người Việt. Theo ông, không chỉ các dân tộc sinh sống trên đất nước mà cả cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đều có nhận thức mình cùng một cội nguồn, cùng một dòng.

Ông Phạm Quang Long nhận định, từ những truyền thuyết dân gian, đặc biệt là những câu chuyện về nguồn gốc chung đã phản ánh một thực tế lịch sử sâu sắc, đó là khát vọng đoàn kết, khát vọng về cộng đồng trách nhiệm và sự sẻ chia.

Theo PGS.TS Phạm Quang Long, cốt lõi của tinh thần đó là giải quyết những vấn đề cụ thể của đất nước, trước hết là tăng cường sức mạnh để vượt qua thử thách. Tuy nhiên, giá trị của đại đoàn kết không chỉ thể hiện trong chiến tranh mà còn phát huy mạnh mẽ trong thời bình, trong quá trình chuẩn bị và thực hiện các bước phát triển của dân tộc qua từng giai đoạn lịch sử.

Ông Phạm Quang Long nhấn mạnh, trong mọi hoàn cảnh, sức mạnh tập thể và trí tuệ của nhân dân luôn là yếu tố đóng góp quan trọng. Những giá trị được tích lũy qua lịch sử hiện nay đã trở thành di sản và được nhìn nhận như một dạng “sức mạnh mềm” của dân tộc. Chính sức mạnh này đã góp phần tạo nên bản lĩnh, cốt cách của con người Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.

Nguyên Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội dẫn thực tế, nhiều nguyên thủ quốc gia khi đến Việt Nam đều cảm nhận được sự bình an, thân thiện không chỉ từ hệ thống tổ chức mà từ chính người dân, từ cách ứng xử đời thường. Những biểu hiện tưởng như giản dị đó lại chính là minh chứng sinh động cho giá trị của di sản đoàn kết đang tiếp tục được phát huy trong đời sống hiện nay.

Để di sản “sống” trong đời sống đương đại

Lễ hội Đền Hùng là một di sản văn hóa phi vật thể đặc biệt. Ảnh: Hoàng Đức

Từ thực tiễn quản lý, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ dừng ở bảo tồn, mà còn phải đưa di sản văn hóa “sống” trong đời sống đương đại, trở thành nguồn lực phát triển bền vững.

Về giải pháp phát huy giá trị di sản, đặc biệt là tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, TS. Phạm Cao Quý cho rằng, trước hết cần nhìn từ khung pháp lý. Luật Di sản văn hóa năm 2024 cùng các văn bản hướng dẫn và Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã cho thấy sự chuyển dịch quan trọng trong cách tiếp cận: Từ mô hình quản lý truyền thống sang quản trị di sản dựa trên sự cân bằng động và sự tham gia của cộng đồng.

Theo đó, di sản văn hóa phi vật thể không phải là thực thể tĩnh, mà luôn vận động, biến đổi theo thời gian. Mỗi lễ hội, mỗi thực hành văn hóa đều có sự khác biệt qua từng giai đoạn. Vì vậy, việc quản trị cần đặt trong trạng thái thích ứng linh hoạt với đời sống hiện đại, thay vì áp đặt những khuôn mẫu cố định.

TS. Phạm Cao Quý, Trưởng phòng Quản lý Di sản văn hóa phi vật thể, Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch). Ảnh: Thanh Hải

Để phát huy giá trị, di sản cần được đưa vào đời sống hằng ngày, trở thành một phần của hiện tại, không chỉ là ký ức của quá khứ. Mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng vừa là người thụ hưởng, vừa có trách nhiệm sáng tạo, thích ứng và lan tỏa giá trị di sản, qua đó đóng góp cho đời sống tinh thần, kinh tế - xã hội. Khi di sản mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng, việc bảo tồn mới thực sự bền vững và có ý nghĩa.

TS. Phạm Cao Quý nhấn mạnh, di sản cũng là nguồn lực quan trọng để phát triển “sức mạnh mềm” và các ngành công nghiệp văn hóa. Thực tiễn tại một số địa phương như Hà Nội hay khu di sản Tràng An cho thấy, khi có sự kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và khai thác, di sản có thể tạo ra giá trị gia tăng rõ rệt.

Ở một góc nhìn khác, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không phải là khái niệm xa vời, mà gắn bó mật thiết với đời sống thường nhật. Bản chất của tín ngưỡng này là sự hội tụ ở cấp độ quốc gia của truyền thống thờ cúng tổ tiên - một nét văn hóa phổ biến trong mỗi gia đình Việt Nam. Tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, tri ân và gắn kết cộng đồng chính là nền tảng để di sản được duy trì, lan tỏa.

Dù không phải ai cũng có điều kiện tham gia lễ hội Đền Hùng hằng năm, nhưng việc thực hành giá trị di sản có thể diễn ra mỗi ngày, thông qua những hành động cụ thể trong gia đình và cộng đồng. Từ đó, tinh thần hướng về cội nguồn được duy trì liên tục, góp phần lan tỏa sâu rộng các giá trị văn hóa truyền thống trong xã hội đương đại.

Công nghệ số đang tác động mạnh mẽ đến việc lan tỏa văn hóa và củng cố tinh thần cộng đồng

PGS.TS Phạm Quang Long, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội trao đổi tại Chương trình. Ảnh: Thanh Hải

Khẳng định công nghệ số đang tác động mạnh mẽ đến việc lan tỏa văn hóa và củng cố tinh thần cộng đồng, PGS.TS Phạm Quang Long, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, chia sẻ: Tôi nhìn nhận công nghệ số ở hai góc độ. Thứ nhất, đây là phương tiện hiện đại, hỗ trợ rất tốt cho con người. Thứ hai, công nghệ số đang tạo ra một hệ sinh thái riêng, có những tác động tích cực đến việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Trước đây, để khám phá hết một di sản như Huế, có khi phải mất hàng tuần. Nhưng với công nghệ số, chỉ cần ở nhà, người ta cũng có thể tiếp cận, nghiên cứu sâu về các chuyên đề di sản. Nhờ đó, giá trị di sản được kéo gần hơn với công chúng, giúp mỗi người hiểu hơn, yêu hơn và góp phần quảng bá di sản hiệu quả hơn.

Tôi nhớ năm 1999, khi đưa hai giáo sư Mỹ tham quan phố cổ Hà Nội, tôi kể cho họ nghe truyền thuyết hồ Hoàn Kiếm. Một giáo sư đã nói rằng, nếu nhiều người Mỹ hiểu được những câu chuyện giàu truyền thống, yêu hòa bình như vậy, có lẽ đã không xảy ra chiến tranh. Điều đó cho thấy, việc lan tỏa di sản có thể tác động sâu sắc đến nhận thức xã hội và cả chính trị.

Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra yêu cầu phải xây dựng một hệ sinh thái nội dung có chiều sâu, với sự tham gia của các chuyên gia am hiểu để giới thiệu đúng, đủ và chuẩn xác về di sản. Khi đó, hiểu biết của công chúng về các hiện vật, giá trị văn hóa sẽ được nâng cao rõ rệt.

Bên cạnh mặt tích cực, công nghệ số cũng có mặt trái, đó là xu hướng vụ lợi, quảng bá những giá trị không xứng đáng. Nếu không được quản lý tốt, những biểu hiện lệch lạc, thiếu lành mạnh sẽ tiềm ẩn nhiều nguy cơ đáng lo ngại.

Yếu tố quyết định vẫn là con người

Người dân hành hương về Khu Di tích lịch sử Đền Hùng (Phú Thọ) để dâng hương bái Tổ. Ảnh: Hoàng Đức

Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc đưa di sản đến gần hơn với công chúng, đặc biệt là giới trẻ đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Từ góc độ quản lý, TS. Phạm Cao Quý, Trưởng phòng Quản lý Di sản văn hóa phi vật thể, Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho rằng, để các giá trị văn hóa truyền thống như tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trở nên hấp dẫn hơn trên không gian số, trước hết cần xác định đúng “tâm thế” và cách tiếp cận di sản.

Theo TS. Phạm Cao Quý, công nghệ hay phương tiện truyền thông số chỉ là công cụ. Điều quan trọng là kể câu chuyện về di sản như thế nào. Mỗi loại hình di sản. không chỉ riêng tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương mà còn nhiều tín ngưỡng, phong tục khác đều cần được tiếp cận bằng những cách kể phù hợp với từng nhóm đối tượng. Người trẻ sẽ có cách kể khác với người lớn tuổi và chính sự đa dạng trong cách kể chuyện sẽ tạo nên sức sống mới cho di sản.

Trong môi trường số hiện nay, khi thông tin ngày càng dày đặc, thậm chí có nguy cơ gây “bội thực”, việc truyền tải di sản càng cần có sự chọn lọc, phân lớp và dẫn dắt. Nếu không, nội dung rất dễ trở nên nhàm chán hoặc hời hợt. Vì vậy, ngôn ngữ kể chuyện cần mang tính đương đại, dung dị, gắn với đời sống, đồng thời có sự phân chia theo từng nhóm công chúng.

Lấy ví dụ với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, theo TS. Phạm Cao Quý, có thể bắt đầu từ những chi tiết gần gũi, cụ thể để khơi gợi sự quan tâm của người trẻ: Vì sao trong Lễ hội Đền Hùng lại có lá cờ ngũ sắc khác với nhiều địa phương, ý nghĩa của việc giã bánh giầy, gói bánh chưng… Từ những lát cắt nhỏ ấy, người xem dần được dẫn dắt đến những giá trị lớn hơn của di sản.

Tuy nhiên, TS. Phạm Cao Quý cũng nhấn mạnh rằng, trong quá trình số hóa và truyền thông, cần đặc biệt tôn trọng các nguyên tắc của di sản. Có những yếu tố có thể phổ biến rộng rãi, nhưng cũng có những nội dung mang tính thiêng liêng, gắn với chủ thể và cộng đồng thực hành di sản thì không thể đưa toàn bộ lên không gian mạng.

Bên cạnh đó, việc lan tỏa di sản không chỉ dừng lại ở việc “kể”, mà cần tạo điều kiện để công chúng, đặc biệt là người trẻ, được trực tiếp trải nghiệm. Chính trải nghiệm thực tế sẽ giúp hình thành sự gắn bó và hiểu biết sâu sắc hơn về giá trị văn hóa truyền thống.

“Tâm thế tiếp cận di sản phải xuất phát từ sự trân trọng và hiểu biết. Việc số hóa cần có lộ trình, có định hướng rõ ràng, dựa trên nền tảng nhận thức đúng đắn về giá trị di sản”, TS. Phạm Cao Quý nhấn mạnh.

Theo TS. Phạm Cao Quý, dù công nghệ số có phát triển đến đâu, yếu tố quyết định vẫn là con người - từ người làm quản lý, người sáng tạo nội dung đến chính cộng đồng thực hành di sản. Đây cũng là nền tảng để văn hóa truyền thống có thể được lan tỏa một cách bền vững trong kỷ nguyên số.

Định hướng rõ ràng để văn hóa phát triển lành mạnh trên không gian mạng

PGS.TS Phạm Quang Long, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội trao đổi tại Chương trình. Ảnh: Thanh Hải

Nhấn mạnh sự cần thiết phải có chính sách và định hướng rõ ràng để văn hóa Việt Nam phát triển lành mạnh trên không gian mạng, PGS.TS Phạm Quang Long, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội chia sẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Văn hóa soi đường cho quốc dân đi" và "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Đó là định hướng xuyên suốt trong việc gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.

Di sản là một thực thể sống, không chỉ thuộc về quá khứ hay bị "đóng khung" trong bảo tàng. Bảo tồn phải đi đôi với phát huy, nhưng phát huy không được làm sai lệch, không tách rời đời sống đương đại.

Trước sự bùng nổ của công nghệ thông tin, việc quản lý và định hướng càng trở nên cấp thiết. Không chỉ riêng ngành Văn hóa, mà cần có sự vào cuộc đồng bộ từ công tác đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng chính sách cụ thể đến cơ chế điều tiết phù hợp nhằm phát huy đúng giá trị.

Bản chất của văn hóa là sáng tạo, không thể đóng khung. Tuy nhiên, sáng tạo cần có sự chọn lọc, dựa trên nền tảng hiểu biết và vai trò định hướng của cơ quan quản lý, để tránh những biểu hiện lai căng, lệch chuẩn.

Không gian mạng mở ra một môi trường phong phú, đa dạng, nhưng suy cho cùng vẫn là con người sử dụng. Việc khai thác, phát huy giá trị văn hóa trên môi trường này cần hướng đến mục tiêu phục vụ con người, vì xã hội, góp phần xây dựng cuộc sống tốt đẹp và hạnh phúc hơn.

Nhận diện hai giá trị cốt lõi: Bảo vệ di sản và thực hành di sản

TS. Phạm Cao Quý ,Trưởng phòng Quản lý Di sản Văn hóa phi vật thể, Cục Di sản Văn hóa (Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch) trao đổi tại Chương trình. Ảnh: Thanh Hải

Trong quá trình số hóa và sáng tạo nội dung văn hóa, luôn tồn tại ranh giới giữa đổi mới và giữ gìn bản sắc. Để quảng bá di sản vừa sáng tạo, vừa không làm sai lệch giá trị truyền thống, TS. Phạm Cao Quý, Trưởng phòng Quản lý Di sản Văn hóa phi vật thể, Cục Di sản Văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho rằng, cần nhận diện rõ hai nội dung cốt lõi: Bảo vệ di sản và thực hành di sản.

Theo TS. Phạm Cao Quý, về mặt pháp lý, Luật Di sản văn hóa 2024 và các văn bản hướng dẫn đã quy định rất rõ các nguyên tắc trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản. Trong đó, có những quy định mang tính “rào chắn” quan trọng, như hành vi bị nghiêm cấm “Chiếm đoạt di sản văn hóa; làm sai lệch yếu tố gốc cấu thành di tích, nội dung và giá trị của di tích, di sản tư liệu; phổ biến, thực hành sai lệch nội dung di sản văn hóa phi vật thể hoặc đưa những yếu tố không phù hợp làm giảm giá trị di tích, di sản văn hóa phi vật thể”.

Điều này đồng nghĩa, bất kỳ hành vi nào làm sai lệch nội dung, ý nghĩa của di sản đều có thể bị xem là vi phạm pháp luật. Đây chính là công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ bản sắc và tính nguyên gốc của di sản trong bối cảnh lan tỏa mạnh mẽ trên không gian số.

Tuy nhiên, bên cạnh hành lang pháp lý, mỗi di sản đều có những nguyên tắc riêng trong quá trình thực hành. Nếu không tuân thủ đúng các nguyên tắc này, di sản sẽ bị biến dạng, thậm chí mất đi bản chất vốn có. “Không phải cứ thực hành theo cách khác là vẫn còn là di sản. Khi đã sai nguyên tắc, di sản sẽ không còn là chính nó”, TS. Phạm Cao Quý nhấn mạnh.

Một trong những vấn đề đáng lưu ý hiện nay là tình trạng “phi bối cảnh” trong việc quảng bá di sản. Không ít nơi, với mục đích giới thiệu, đã đưa các nghi lễ mang tính thiêng ra trình diễn trên sân khấu hoặc trong các sự kiện không phù hợp. Ví dụ, việc mời thầy cúng thực hiện nghi lễ trong không gian hội nghị có thể vô tình vi phạm những nguyên tắc cơ bản, bởi nhiều nghi lễ chỉ được thực hành trong không gian thiêng và hoàn cảnh nhất định. Nếu thiếu hiểu biết, việc quảng bá không những không hiệu quả mà còn làm sai lệch giá trị di sản.

Từ thực tế đó, theo TS. Phạm Cao Quý, việc tiếp cận di sản phải dựa trên nền tảng hiểu biết. Câu hỏi “đúng - sai” trong thực hành và quảng bá di sản không chỉ được xác định bởi quy định pháp luật, mà còn phụ thuộc vào chính cộng đồng - những người đang nắm giữ và thực hành di sản. Họ là chủ thể, là người quyết định giá trị đích thực của di sản.

“Không có cộng đồng, không có nghệ nhân thì không có di sản. Di sản văn hóa phi vật thể gắn liền với con người, được duy trì thông qua chính hoạt động thực hành của họ. Vì vậy, cần tôn trọng vai trò của cộng đồng trong việc xác định và bảo vệ giá trị di sản”, TS. Phạm Cao Quý phân tích.

Trong bối cảnh hiện nay, cách tiếp cận di sản cũng đang chuyển từ mô hình quản lý truyền thống sang quản trị hiện đại, lấy cộng đồng làm trung tâm. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, ban hành cơ chế, chính sách và tạo điều kiện; còn cộng đồng là chủ thể trực tiếp bảo vệ, thực hành và phát huy di sản.

Do đó, một trong những giải pháp quan trọng là nâng cao nhận thức cho cộng đồng và các chủ thể nắm giữ di sản, giúp họ hiểu rõ giá trị văn hóa cũng như các quy định pháp luật liên quan. Khi có đủ hiểu biết, chính họ sẽ là người đưa ra quyết định đúng đắn: Cái gì nên làm, cái gì không; đâu là sáng tạo phù hợp, đâu là lệch chuẩn cần tránh.

Đặc biệt, với các di sản đã được UNESCO ghi danh, việc bảo vệ và phát huy giá trị còn phải tuân thủ các cam kết quốc tế, trong đó có Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Điều này càng đặt ra yêu cầu cao hơn về tính chuẩn mực và trách nhiệm trong quá trình số hóa, quảng bá di sản.

Theo TS. Phạm Cao Quý, trong môi trường số, nơi thông tin lan truyền với tốc độ rất nhanh, nếu nội dung sai lệch được phổ biến, hệ lụy sẽ rất lớn. Vì vậy, việc sáng tạo nội dung về di sản không thể tùy tiện, mà cần dựa trên hiểu biết, tôn trọng và tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi.

TS. Phạm Cao Quý khẳng định, với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và đồng hành, còn người dân, cộng đồng và nghệ nhân mới là chủ thể quyết định trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản. Chỉ khi phát huy đúng vai trò của cộng đồng, di sản mới có thể được gìn giữ và lan tỏa một cách bền vững.

Chuyển hóa di sản thành nguồn lực kinh tế

Chia sẻ về Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, PGS.TS Phạm Quang Long cho biết, khi đọc Nghị quyết 80-NQ/TW, ông rất mừng bởi có những đột phá về nhận thức văn hóa, bao gồm việc người dân cần hiểu đúng về di sản.

PGS.TS Phạm Quang Long, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội trao đổi tại Chương trình. Ảnh: Thanh Hải

Theo PGS.TS Phạm Quang Long, không chỉ di sản mà cần hiểu đúng về văn hóa, hiểu đúng về con người - chủ thể sáng tạo văn hóa. Trước đây, chúng ta nhìn nhận văn hóa như một hệ thống mang tính chức năng, đánh giá văn hóa và con người không phải từ bản thể mà từ góc nhìn tư tưởng hệ. Góc nhìn này rất cần khi giải quyết những vấn đề cụ thể, nhưng không phải là toàn bộ đối tượng.

Trong Nghị quyết 80-NQ/TW có đề cập đến con người, đến những nhân cách văn hóa. Nói đến văn hóa là nói đến những giá trị trường tồn của dân tộc, giá trị nhân văn của con người và hướng con người đến hạnh phúc. PGS.TS Phạm Quang Long cho rằng, đây là những nhận thức mới về mặt lý thuyết đối với văn hóa và con người. Chỉ khi hiểu như vậy, chúng ta mới tôn trọng các giá trị sáng tạo, tôn trọng cạnh tranh và những gì tốt nhất mà con người có thể sáng tạo ra.

Người dân lên núi Nghĩa Lĩnh dâng hương. Ảnh: Hoàng Đức

Đối với di sản, tinh thần này là phù hợp. Việc quảng bá, kể cả phát triển công nghiệp văn hóa cùng với việc nghị quyết đề cập đến các lĩnh vực, cho thấy văn hóa không còn chỉ là nền tảng tinh thần hay động lực, mà trở thành một trụ cột phát triển của xã hội. Điều này tạo ra một nhận thức mới: Không để di sản chỉ là di sản, mà chuyển hóa di sản thành nguồn lực kinh tế, thành giá trị cụ thể, góp phần giúp người dân có cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc hơn. Đó là ý nghĩa của việc tôn tạo và phát huy di sản.

Việc quảng bá ra nước ngoài, thu hút du lịch, làm truyền thông, phát triển công nghiệp văn hóa và nhiều hoạt động khác, khi kết hợp sẽ tạo ra sức sống cho di sản, biến di sản thành nguồn lực thực sự, có thể nhìn thấy được, không chỉ tồn tại trên giấy tờ.

PGS.TS Phạm Quang Long, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội trao đổi tại Chương trình. Ảnh: Thanh Hải

"Tôi cho rằng đã có nhiều chính sách của Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng được ban hành mang tính đồng bộ và giải quyết các vấn đề cụ thể, không còn mang nặng tính lý thuyết như trước. Trước đây, vẫn có những nội dung còn xa rời thực tiễn, nhưng hiện nay đã gắn với thực tiễn, được xác định là trụ cột phát triển trong tương lai. Đích đến là văn hóa và thước đo sự phát triển của xã hội cũng nằm ở văn hóa. Đây là những tiền đề rất lớn cho quá trình phát triển”, PGS.TS Phạm Quang Long nhấn mạnh.

Để di sản thực sự trở thành sợi dây gắn kết cộng đồng trong thời đại mới

TS Phạm Cao Quý, Trưởng phòng Quản lý Di sản văn hóa phi vật thể, Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch). Ảnh: Thanh Hải

Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo tồn và lan tỏa các di sản như tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương cần được đặt trong mục tiêu lớn là củng cố, phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, để di sản thực sự trở thành sợi dây gắn kết cộng đồng trong thời đại mới.

Theo TS Phạm Cao Quý, trước hết cần nhìn nhận rằng giá trị cốt lõi của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương chính là tinh thần đoàn kết. Giá trị ấy không phải điều gì xa vời, mà hiện hữu ngay trong đời sống hằng ngày của mỗi cá nhân, mỗi gia đình và cộng đồng.

Người dân lên núi Nghĩa Lĩnh dâng hương. Ảnh: Hoàng Đức

Việc phát huy di sản không nhất thiết bắt đầu từ những hoạt động quy mô lớn, mà từ chính những hành động cụ thể, thiết thực: Mỗi người đề cao tinh thần đoàn kết trong gia đình, dòng họ, khu dân cư, cơ quan, doanh nghiệp. Khi đoàn kết trở thành phương thức ứng xử và động lực hành động, nó sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công việc, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững.

Tinh thần đoàn kết gắn với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương còn thể hiện ở sự sẻ chia, hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng. Trong bối cảnh xã hội hiện đại với nhiều thách thức, nếu thiếu sự gắn kết, đồng lòng thì rất khó đạt được thành công. Ngược lại, khi nhiều người cùng chung tay, cùng hướng tới những giá trị chung, việc gì cũng trở nên thuận lợi hơn.

Bên cạnh đó, cần khuyến khích sự tham gia rộng rãi của cộng đồng, bao gồm cả người Việt Nam ở nước ngoài, trong việc gìn giữ và lan tỏa giá trị di sản. Qua đó, tinh thần đại đoàn kết không chỉ được củng cố trong nước mà còn được mở rộng, kết nối cộng đồng người Việt trên toàn thế giới, đúng như tinh thần mà Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.

Các khách mời chụp ảnh lưu niệm cùng ê-kíp thực hiện Chương trình thời sự với chủ đề “Phát huy tinh thần đại đoàn kết và văn hóa Việt trong kỷ nguyên mới”. Ảnh: Thanh Hải

Nhóm phóng viên

TIN LIÊN QUAN






















Home Icon VỀ TRANG CHỦ