Phát huy nội lực để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số

Quang cảnh kỳ họp. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Đại biểu đánh giá thế nào về mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm đầu nhiệm kỳ cũng như những năm tiếp theo?
Tôi nghĩ rằng mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm đầu của nhiệm kỳ cũng như các năm tiếp theo là mục tiêu rất thử thách, đòi hỏi sự tập trung và nỗ lực rất lớn từ Trung ương tới chính quyền các cấp, cũng như sự tham gia của các đơn vị, doanh nghiệp trong và ngoài nước để có thể đạt được.
Tuy nhiên, đây cũng là một thách thức lớn do nhiều nguyên nhân. Hiện nay, chúng ta đang chứng kiến những tác động từ chiến sự tại Trung Đông, xu hướng bảo hộ thương mại và chính sách áp thuế của các nước lớn như Mỹ, cùng với việc duy trì lãi suất cao của các ngân hàng trung ương tại nhiều nền kinh tế phát triển như Mỹ, Đức và khu vực châu Âu. Tất cả những yếu tố này đều ảnh hưởng đến triển vọng tăng trưởng, khả năng thu hút đầu tư cũng như sức cầu của nền kinh tế toàn cầu.
Đặc biệt, chiến sự tại Trung Đông đã gây tác động đáng kể đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm gia tăng chi phí đầu vào của nền kinh tế và của doanh nghiệp, qua đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp quốc gia.
Tất cả những yếu tố đó đều có thể tác động tới mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt ra là đạt tốc độ tăng trưởng hai con số trong những năm tới nhằm đưa Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước phát triển vào năm 2045.
Trong bối cảnh thế giới còn nhiều biến động, theo đại biểu đâu là trụ cột để bảo đảm tính tự chủ của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này?
Tôi cho rằng để đạt được mục tiêu tăng trưởng, điều quan trọng là phải phát huy nội lực của nền kinh tế. Nội lực cần được củng cố cả ở phía cung lẫn phía cầu, đồng thời các chính sách cần bảo đảm ổn định các cân đối lớn của nền kinh tế, tránh những cú sốc lớn gây xáo trộn hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp cũng như nhà đầu tư. Do đó, nội lực cần được xem như “trụ cột” giúp nền kinh tế duy trì ổn định sản xuất trong nước. Bên cạnh đó, việc điều hành chính sách vĩ mô cần được thực hiện đồng bộ, trong đó chính sách tài khóa và tiền tệ phải phối hợp chặt chẽ và linh hoạt.
Mục tiêu trước hết là tiếp tục thu hút các nguồn lực xã hội trong nước tham gia mạnh mẽ hơn vào quá trình sản xuất kinh doanh. Đồng thời, cần bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô để người dân và doanh nghiệp yên tâm sản xuất, tiêu dùng, qua đó tạo điều kiện để thị trường hấp thụ tốt hơn các sản phẩm, hàng hóa do doanh nghiệp sản xuất. Khi nội lực được củng cố, nền kinh tế sẽ có khả năng chống chịu tốt hơn trước những cú sốc từ bên ngoài.
Theo đại biểu, những vấn đề nào cần được tháo gỡ trong giai đoạn tới để hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp phát triển?
Về thể chế, theo tôi cần tiếp tục giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực từ bên ngoài thông qua các chính sách hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn tín dụng, bảo đảm đủ nguồn lực cho sản xuất.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và số hóa, đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục cho người dân, nhà đầu tư và doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp các nguồn lực của nhà đầu tư được đưa vào nền kinh tế nhanh hơn.
Ngoài ra, cần đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, đặc biệt đối với các dự án quan trọng quốc gia; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để giải phóng nguồn lực và tạo hiệu ứng lan tỏa, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội tham gia phát triển kinh tế.
Tổng nguồn vốn đầu tư công trong giai đoạn 2026-2030 tới dự kiến khoảng hơn 8 triệu tỷ đồng, có thể cao hơn nhiều so với giai đoạn trước. Đại biểu đánh giá thế nào về tính khả thi của con số này trong bối cảnh ngân sách hiện nay?
Trong giai đoạn tới nguồn lực đầu tư công dự kiến khoảng hơn 8 triệu tỷ đồng để triển khai các dự án từ cấp quốc gia đến địa phương. Đây là nguồn lực rất lớn, được phân bổ cho nhiều dự án quan trọng. Cơ cấu đầu tư giữa Trung ương và địa phương đã khá rõ ràng. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhanh chóng đưa nguồn lực vào thực tế khi các dự án đã được xác định, đặc biệt là dự án mang tính đột phá.
Đối với các dự án hạ tầng quy mô lớn, cần tập trung tối đa nguồn lực và có cơ chế đặc biệt để triển khai nhanh, tránh tình trạng ách tắc trong quá trình thực hiện. Đồng thời, cần coi nguồn vốn đầu tư công như “vốn mồi” để thu hút thêm các nguồn lực xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các dự án phát triển hạ tầng.
Một vấn đề quan trọng khác là cần giải quyết kịp thời nguồn vật tư, vật liệu phục vụ thi công các dự án trọng điểm, động lực quốc gia. Nếu những vấn đề này được tháo gỡ nhanh chóng, tôi tin rằng nguồn lực đầu tư công sẽ phát huy hiệu quả mạnh mẽ hơn trong giai đoạn 2026–2031.
Xin cảm ơn đại biểu!
Thùy Dương – Uyên Hương (TTXVN)
3 giờ trước
11 giờ trước
18 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước