Phấn đấu công nghiệp vật liệu Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực
Hình thành năng lực vật liệu quốc gia
Sáng 7/7, Bộ Công Thương tổ chức Họp về dự thảo đề cương Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tham dự cuộc họp có đại diện Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và một số viện, trường đại học…

Ông Nguyễn Ngọc Thành, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương. Ảnh: Thái Mạnh
Ông Nguyễn Ngọc Thành, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương cho biết, thực hiện chỉ đạo của cấp có thẩm quyền về nghiên cứu, phát triển ngành công nghiệp vật liệu Việt Nam, Bộ Công Thương đã xây dựng dự thảo đề cương Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Cuộc họp được tổ chức để xin ý kiến các bộ, ngành, cơ quan nghiên cứu, đào tạo, doanh nghiệp và các đơn vị liên quan làm cơ sở tiếp tục hoàn thiện đề cương trước khi triển khai các bước tiếp theo.
Thông tin về Chiến lược quốc gia phát triển công nghiệp vật liệu, ông Đỗ Nam Bình, Trưởng phòng Khoáng sản và Luyện kim, Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) cho biết, công nghiệp vật liệu là ngành công nghiệp nền tảng, cung cấp đầu vào cho hầu hết các lĩnh vực quan trọng như xây dựng, giao thông, năng lượng, cơ khí chế tạo, điện tử, bán dẫn, y tế, quốc phòng, an ninh, kinh tế biển và các ngành công nghệ cao. Trình độ phát triển vật liệu phản ánh trực tiếp trình độ công nghiệp hóa, năng lực khoa học công nghệ và năng lực tự chủ của một quốc gia.
Trong bối cảnh mới, cạnh tranh quốc tế không chỉ diễn ra ở sản phẩm cuối cùng mà diễn ra rất mạnh ở nguyên liệu, vật liệu, công nghệ chế biến sâu, tiêu chuẩn, dữ liệu và chuỗi cung ứng. Các lĩnh vực như bán dẫn, AI, pin và lưu trữ năng lượng, điện gió ngoài khơi, xe điện, công nghiệp quốc phòng, y sinh, dược phẩm đều phụ thuộc rất lớn vào vật liệu. Vì vậy, nếu không chủ động phát triển công nghiệp vật liệu, chúng ta sẽ khó nâng cao năng lực tự chủ công nghiệp và khó tham gia sâu vào các chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao.
“Tinh thần chung của dự thảo đề cương là chuyển từ lợi thế tài nguyên sang năng lực vật liệu; chuyển từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang chế biến sâu; chuyển từ sản xuất đơn lẻ sang phát triển chuỗi giá trị; và chuyển từ phụ thuộc nhập khẩu sang từng bước tự chủ các vật liệu thiết yếu, vật liệu chiến lược” - ông Đỗ Nam Bình nói.

Ông Đỗ Nam Bình, Trưởng phòng Khoáng sản và Luyện kim, Cục Công nghiệp. Ảnh: Thái Mạnh
Về quan điểm phát triển, ông Bình nêu rõ, dự thảo đề cương xác định công nghiệp vật liệu là ngành công nghiệp nền tảng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; là đầu vào và điều kiện tiên quyết để phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp chiến lược và sản phẩm công nghệ cao.
Phát triển công nghiệp vật liệu được tiếp cận theo hướng hình thành năng lực vật liệu quốc gia, bao gồm năng lực nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa, sản xuất, thương mại hóa, tái chế và bảo đảm nguồn cung.
Do đó, đề cương không tiếp cận vật liệu theo nghĩa hẹp là chỉ sản xuất nguyên liệu, mà tiếp cận theo chuỗi giá trị hoàn chỉnh, từ nguồn nguyên liệu - chế biến sâu - vật liệu - linh kiện - thiết bị - sản phẩm công nghiệp - thị trường - tái chế.

Ông Trần Mỹ Dũng, Phó Cục trưởng Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phát biểu tại cuộc họp. Ảnh: Thái Mạnh
Đề cương cũng đặt yêu cầu phát triển có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải. Theo đó, các nhóm vật liệu được định hướng thành ba nhóm: Vật liệu cơ bản cần giữ vững và nâng cấp; vật liệu chiến lược cần tập trung đột phá và vật liệu tương lai cần nghiên cứu, chuẩn bị dài hạn. Đây là cách tiếp cận nhằm giải quyết yêu cầu trước mắt, đồng thời tạo nền tảng cho phát triển dài hạn.
Một quan điểm rất quan trọng là phải chuyển mạnh từ khai thác tài nguyên sang làm chủ công nghệ, chế biến sâu và nâng cao giá trị gia tăng trong nước. Việt Nam có lợi thế về khoáng sản, dầu khí, tài nguyên biển, sinh khối, vật liệu xây dựng và nguồn nguyên liệu tái chế, nhưng nếu chỉ dừng ở khai thác, sơ chế hoặc xuất khẩu nguyên liệu thô thì giá trị gia tăng thấp và khó hình thành năng lực công nghiệp thực chất.

Ông Trịnh Minh Hoàn, chuyên viên Vụ Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ.
Đề cương đồng thời xác định phát triển công nghiệp vật liệu phải dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, tiêu chuẩn, dữ liệu, nhân lực chất lượng cao và doanh nghiệp làm trung tâm; trong đó thiết kế vật liệu, thử nghiệm, kiểm định, tiêu chuẩn hóa và thương mại hóa là các khâu then chốt để đưa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm thực tế.
Làm chủ một số chuỗi giá trị vật liệu chiến lược
Theo ông Đỗ Nam Bình, mục tiêu tổng quát của dự thảo đề cương là hình thành năng lực vật liệu quốc gia, trên cơ sở chuyển hóa lợi thế về tài nguyên, khoáng sản, dầu khí, tài nguyên biển, sinh khối và các nguồn nguyên liệu khác thành năng lực chế biến sâu, năng lực công nghệ, năng lực sản xuất và năng lực cạnh tranh.
Đến năm 2030, phấn đấu từng bước hình thành năng lực công nghiệp vật liệu quốc gia tương đối đồng bộ; có khả năng nghiên cứu, thiết kế, phát triển, sản xuất, cung ứng, tiêu chuẩn hóa, thương mại hóa và tái chế một số nhóm vật liệu quan trọng phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đến năm 2045, phấn đấu công nghiệp vật liệu Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực ở một số lĩnh vực có lợi thế; làm chủ một số chuỗi giá trị vật liệu chiến lược; hình thành một số doanh nghiệp vật liệu có năng lực cạnh tranh quốc tế; góp phần xây dựng nền công nghiệp quốc gia tự chủ, hiện đại và có sức chống chịu cao.

Ông Phạm Văn Toại, Viện trưởng Viện Thuốc phóng thuốc nổ, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng.
Về mục tiêu cụ thể, dự thảo đề cương tập trung vào các nội dung: xây dựng khung năng lực công nghiệp vật liệu quốc gia; hình thành hệ thống dự báo nhu cầu vật liệu và cơ sở dữ liệu quốc gia ngành vật liệu; xác định danh mục vật liệu ưu tiên, danh mục chuỗi giá trị vật liệu ưu tiên; làm chủ một số chuỗi vật liệu chiến lược và công nghệ vật liệu then chốt; phát triển công nghiệp chế biến sâu khoáng sản, dầu khí và nguyên liệu trong nước; đồng thời phát triển hệ sinh thái nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa, sản xuất và ứng dụng vật liệu.
Trước mắt, dự thảo đề cương định hướng ưu tiên một số nhóm có ý nghĩa chiến lược như vật liệu bán dẫn, vật liệu đất hiếm, vật liệu cho pin và lưu trữ năng lượng, vật liệu mới, vật liệu phục vụ công nghệ cao, quốc phòng, an ninh, năng lượng tái tạo, chuyển đổi số; đồng thời chú trọng các chuỗi có lợi thế như đất hiếm - vật liệu từ: bô-xít - alumin - nhôm - hợp kim nhôm; titan - hợp kim titan; vật liệu pin; vật liệu bán dẫn; thép chất lượng cao; hóa chất - polymer - composite; và vật liệu tái chế.

Ông Trần Tuấn Anh, chuyên viên Vụ Tài chính kinh tế ngành, Bộ Tài chính. Ảnh: Thái Mạnh
Về nhiệm vụ và giải pháp, dự thảo đề cương đề xuất 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn. Nhóm thứ nhất là hoàn thiện thể chế, cơ chế điều phối và nguồn lực, trong đó tập trung rà soát, hoàn thiện pháp luật liên quan đến khoáng sản, dầu khí, hóa chất, công nghiệp, xây dựng, dược, y tế, đầu tư, môi trường, tiêu chuẩn, đấu thầu và mua sắm công; đồng thời nghiên cứu cơ chế đặc thù cho các chuỗi vật liệu chiến lược.
Nhóm thứ hai là quản trị và bảo đảm nguồn nguyên liệu chiến lược. Nội dung này bao gồm điều tra, đánh giá, cập nhật tiềm năng các nguồn nguyên liệu; xây dựng danh mục nguyên liệu chiến lược và vật liệu chiến lược quốc gia; kiểm soát khai thác, xuất khẩu nguyên liệu thô; gắn khai thác với chế biến sâu; mở rộng nguồn nguyên liệu quốc tế thông qua hợp tác, liên doanh, mua bán - sáp nhập, hợp đồng dài hạn và ngoại giao nguyên liệu; đồng thời phát triển tái chế, vật liệu thay thế và kinh tế tuần hoàn.
Nhóm thứ ba là phát triển công nghiệp chế biến sâu và vật liệu nền tảng, trọng tâm là chế biến sâu khoáng sản, luyện kim, hóa chất, hóa dầu, polymer, composite và vật liệu tiên tiến. Cùng với đó là phát triển vật liệu xây dựng xanh, thép xanh, xi măng phát thải thấp, kính chất lượng cao, bê tông đặc chủng và vật liệu phục vụ các công trình lớn.

Ông Lê Văn Chiều, Phó trưởng Ban Khoa học và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nhóm thứ tư là hình thành các chuỗi vật liệu chiến lược phục vụ ngành động lực, như chuỗi đất hiếm - nam châm - động cơ turbin robot - quốc phòng; titan - hợp kim titan - hàng không - y sinh - công nghiệp biển; graphite, nickel, lithium, cobalt - pin - lưu trữ năng lượng - xe điện; thép chất lượng cao - đường sắt - đóng tàu - công trình biển - điện gió ngoài khơi; đồng, nhôm, vật liệu dẫn điện - lưới điện - trung tâm dữ liệu - AI.
Các nhóm nhiệm vụ tiếp theo là phát triển vật liệu phục vụ kinh tế biển; phát triển vật liệu phục vụ y sinh, dược phẩm và an ninh y tế; phát triển khoa học, công nghệ, dữ liệu và AI trong lĩnh vực vật liệu; và phát triển doanh nghiệp, thị trường, hệ sinh thái vật liệu.
Dự thảo đề cương cũng đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành tối thiểu từ 3 - 5 trung tâm nghiên cứu vật liệu quốc gia, đồng thời phát triển doanh nghiệp vật liệu Việt Nam có năng lực dẫn dắt chuỗi cung ứng.
Trên cơ sở ý kiến tại cuộc họp, Bộ Công Thương sẽ tiếp thu, hoàn thiện dự thảo Đề cương, làm rõ hơn các trọng tâm, trọng điểm, danh mục nhiệm vụ, cơ chế tổ chức thực hiện và phân công trách nhiệm, bảo đảm Chiến lược khi được xây dựng có tính khả thi, có trọng tâm, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét chỉ đạo.
Quỳnh Nga - Lan Anh
1 giờ trước
41 phút trước
15 phút trước
31 phút trước
3 phút trước
23 phút trước
44 phút trước
54 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước