🔍
Chuyên mục: Thời sự

Phải chăng chuyển đổi số gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp?

1 giờ trước
'Chuyển đổi số' là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta, nhưng lợi dụng những bất cập trong quá trình triển khai thực hiện, các thế lực thù địch cho rằng, 'chủ trương này gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp'. Bài viết tập trung nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch về vấn đề này và tác hại đối với lòng tin của nhân dân. Từ đó, khẳng định tính khoa học, cách mạng của chủ trương này và đề xuất các giải pháp mang tính đồng bộ, để đấu tranh, phản bác hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc chủ trương chuyển đổi số của Đảng, Nhà nước trong kỷ nguyên phát triển mới.

Chuyển đổi số đã được nhiều nước phát triển thực hiện gắn với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ ba. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chung trên toàn cầu về “chuyển đổi số”.

Theo Tạp chí trực tuyến, cộng đồng xã hội, “chuyển đổi số” được quan niệm là “cách sử dụng công nghệ để thực hiện lại quy trình sao cho nó trở nên hiệu quả hơn, không chỉ là việc thay đổi một dịch vụ hiện có thành phiên bản kỹ thuật số mà còn cải thiện nó”. Tập đoàn Microsoft quan niệm “Chuyển đổi số là việc tư duy lại cách thức các tổ chức tập hợp mọi người, dữ liệu và quy trình để tạo những giá trị mới”.

Từ các quan niệm trên, theo nghĩa chung nhất, “chuyển đổi số là quy trình số hóa toàn bộ hoạt động làm việc, sống trên môi trường số”.

Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm) tham quan không gian giới thiệu ứng dụng chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng. Ảnh: qdnd

Ở Việt Nam, khởi đầu cho “chuyển đổi số” từ ngành Bưu điện vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Đây là ngành được Đảng ta xác định cần “đi tắt, đón đầu”. Hiện nay, cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đang phát triển nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu, “chuyển đổi số” trở thành xu thế tất yếu, tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trước tình hình này, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27-9-2019 “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.

Nghị quyết này xác định: “Hoàn thiện thể chế tạo thuận lợi cho chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số quốc gia”. Ngay sau đó, ngày 3-6-2020, Chính phủ đã ban hành “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Qua quá trình triển khai thực hiện, thấy rõ những bất cập, đồng thời để làm cho chủ trương “chuyển đổi số” cùng với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu nâng cao “hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” quản trị quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số, hướng tới mục tiêu phục vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp, qua đó, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội “nhanh, bền vững”, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”.

Tuy vậy, trong quá trình triển khai thực hiện chủ trương “chuyển đổi số”, bên cạnh những kết quả rất tích cực, vẫn còn tồn tại một số khó khăn, bất cập như: Hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ; hệ thống dữ liệu chưa liên thông; không ít người dân, doanh nghiệp chưa làm chủ được quy trình số hóa và các kỹ năng số... Từ những bất cập này, các thế lực thù địch ngay lập tức lợi dụng và tập trung xuyên tạc khi cho rằng, “chuyển đổi số gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp”; thậm chí, chúng còn rêu rao chủ trương này làm gia tăng thủ tục và chi phí, nên gây “lãng phí ngân sách nhà nước”, qua đó, kích động tâm lý hoài nghi, gây hiểu sai lệch về thực chất của chủ trương “chuyển đổi số”.

Trước tình hình nêu trên, việc nghiên cứu, nhận diện và đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch; khẳng định tính khoa học, cách mạng trong thực hiện chủ trương này của Đảng, Nhà nước ta, từ đó tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong toàn xã hội là vấn đề cấp thiết hiện nay.

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Ngày chuyển đổi số Quốc gia, ngày 10-10-2022. Ảnh: qdnd.vn

1. Nhận diện âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, quy kết “chuyển đổi số gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp”

Với mưu đồ chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, qua đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng các hạn chế trong triển khai thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng để bóp méo sự thật, mà một trong số đó là chúng xuyên tạc chủ trương “chuyển đổi số”.

Thực hiện mưu đồ này, các thế lực thù địch không từ bỏ bất cứ một thủ đoạn nào, đặc biệt là chúng tập trung khai thác những hạn chế, bất cập trong triển khai thực hiện, rồi tán phát các bài viết, video, đồ họa trên các nền tảng trực tuyến, mạng xã hội để quy kết “chuyển đổi số gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp”, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc. Có thể khái quát một số thủ đoạn xuyên tạc, chống phá mà các thế lực thù địch, phản động thường hay sử dụng dưới đây:

Thứ nhất, chúng mượn danh “phản ánh thực tiễn” để xuyên tạc có chủ đích. Các đối tượng thường khai thác những hiện tượng hoặc các trục trặc trong triển khai thực hiện chủ trương “chuyển đổi số” như: Hệ thống dịch vụ công trực tuyến có thời điểm trục trặc, thủ tục điện tử có nội dung chưa thay thế hồ sơ giấy; tình trạng chưa hoàn toàn liên thông dữ liệu giữa các bộ, ngành trong cơ quan hành chính nhà nước... Từ những hạn chế mang tính cục bộ, tạm thời này, không ít bài viết, video, hình ảnh đã thổi phồng vấn đề và quy kết chủ trương “chuyển đổi số” là rườm rà, kém hiệu quả. Thực chất, đây là thủ đoạn không mới, khi họ lấy cái riêng lẻ để quy chụp toàn cục, lấy hiện tượng thay cho bản chất, qua đó, dẫn dắt nhận thức sai lệch trong dư luận.

Thứ hai, các thế lực thù địch lợi dụng không gian mạng để khuếch đại thông tin tiêu cực. Thông qua các nền tảng Facebook, Youtube, Tiktok và các phần mềm sử dụng Telegram, Netflix... chúng thêu dệt để thổi phồng vấn đề nhỏ thành các câu chuyện như: “Làm thủ tục online vẫn phải đi lại nhiều lần”, “nộp hồ sơ điện tử nhưng vẫn bị yêu cầu bổ sung giấy tờ”, “đã chuyển đổi số mà vẫn phải photo nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”... Thậm chí, chúng còn cắt ghép một số hình ảnh, clip và tạo các tít "nóng" để tung lên mạng, nhằm tạo hiệu ứng lan truyền nhanh. Khi những thông tin sai trái này được lặp đi, lặp lại với tần suất cao, dễ gây hoài nghi, qua đó làm suy giảm niềm tin của một bộ phận người dân và doanh nghiệp vào chủ trương chuyển đổi số của Đảng.

Thứ ba, các thế lực thù địch dùng thủ đoạn “đánh tráo khái niệm”, tạo sự mơ hồ về nhận thức và quy kết trách nhiệm. Các đối tượng cố tình đồng nhất những bất cập trong khâu tổ chức thực hiện với thực chất của chủ trương “chuyển đổi số”. Mặc dù thực tế các bất cập phát sinh do chưa đồng bộ về hạ tầng công nghệ và hệ thống dữ liệu, cùng với năng lực vận hành, thực thi và làm chủ các kỹ năng số của một bộ phận cán bộ, công chức, nhưng các phần tử cơ hội, các trang mạng xã hội thiếu thiện chí với Việt Nam lại quy kết chủ trương chuyển đổi số là nguyên nhân gây ra rắc rối trong giải quyết các thủ tục hành chính. Đây là cách lập luận hoàn toàn phi lý, song lại dễ tác động đến những người thiếu thông tin kiểm chứng, từ đó làm lệch lạc nhận thức chủ trương chuyển đổi số của Đảng.

Thứ tư, một số phần tử phản động lợi dụng tự do ngôn luận để phát tán các luận điệu lồng ghép vấn đề chuyển đổi số, để suy diễn điều không có thật như: “Chuyển đổi số để tăng cường kiểm soát người dân, doanh nghiệp”, “chuyển đổi số trong cải cách hành chính chỉ là cải lùi”, “chuyển đổi số làm tăng thêm gánh nặng chi phí cho người dân, doanh nghiệp”... Xét về bản chất, đây là thủ đoạn xuyên tạc nhằm tấn công trực diện vào lộ trình chuyển đổi số đang được triển khai rất quyết liệt, bài bản hiện nay, từ đó chúng kích động tâm lý bất mãn, gây chia rẽ giữa Nhà nước với người dân, doanh nghiệp.

Thứ năm, lợi dụng hạn chế về kỹ năng số của một bộ phận người dân, doanh nghiệp, nhất là người yếu thế để củng cố luận điệu sai trái. Từ thực tế một bộ phận người dân chưa làm chủ được các kỹ năng số, các thế lực thù địch vin vào đó để vu cáo, hạ thấp hiệu quả của chủ trương chuyển đổi số. Đáng chú ý, chúng tập trung khai thác hạn chế từ những người cao tuổi và một bộ phận người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, ít có điều kiện để làm chủ kỹ năng số, để quy chụp rằng, chủ trương chuyển đổi số đã bỏ rơi những người yếu thế. Từ đó, họ vẽ ra bức tranh méo mó, phiến diện, hòng phủ nhận kết quả thực hiện chủ trương chuyển đổi số, nhất là nỗ lực của Chính phủ trong thu hẹp khoảng cách số và bảo đảm tiếp cận công bằng trong chủ trương chuyển đổi số.

Như vậy, việc xuyên tạc, quy kết chuyển đổi số gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp là hoàn toàn sai trái, không có cơ sở và với động cơ, dụng ý xấu, song được núp dưới thủ đoạn rất tinh vi, khi chúng tập trung lợi dụng cái chưa hoàn thiện, để phủ nhận cái tất yếu; lợi dụng khó khăn nhất thời để xuyên tạc mục tiêu lâu dài. Do vậy, việc nhận diện và kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc vấn đề này là việc cấp thiết hiện nay.

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (nay là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) phát biểu tại hội nghị Tổng kết công tác phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, thực hiện đề án 06 và cải cách hành chính trong Bộ Quốc phòng năm 2025. Ảnh: qdnd.vn

2. Tính khoa học và cách mạng của chủ trương chuyển đổi số

Trong bối cảnh thế giới đang chuyển biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số trở thành xu thế tất yếu, khách quan. Đối với nước ta, chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi số không đơn thuần là lựa chọn về công nghệ, mà còn là một quyết sách chiến lược mang tầm nhìn dài hạn, phản ánh sâu sắc tính khoa học, cách mạng trong tư duy hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Việc làm rõ điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong củng cố nhận thức, thống nhất hành động trong toàn xã hội; đồng thời, góp phần bác bỏ các luận điệu xuyên tạc về chủ trương chuyển đổi số của Đảng.

2.1. Tính khoa học của chủ trương chuyển đổi số

Thứ nhất, chủ trương chuyển đổi số được xây dựng trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, khoa học, công nghệ giữ vai trò then chốt, là động lực cơ bản thúc đẩy lực lượng sản xuất và tiến bộ xã hội. C. Mác khẳng định: “Sự phát triển của tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ biến (wissen knowledge) đã chuyển hóa đến mức độ nào đó thành lực lượng sản xuất trực tiếp”. Trong điều kiện mới, để giữ vững nền độc lập cho nước Nga xô viết sau Cách mạng tháng 10 năm 1917, V.I. Lênin khẳng định: “Nếu không khôi phục được công nghiệp nặng thì chúng tôi sẽ không thể xây dựng được công nghiệp nào cả, và nếu không có công nghiệp, thì nói chung, chúng tôi sẽ diệt vong, không còn là một nước độc lập nữa”.

Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò quan trọng của khoa học, công nghệ trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người khẳng định: “Tiến nhanh, tiến mạnh là quy luật của chủ nghĩa xã hội. Muốn sản xuất được nhiều, nhanh, tốt, rẻ, thì phải có nhiệt tình cách mạng. Nhưng lại còn phải hiểu biết và nắm vững khoa học”.

Nhờ kiên định trong vận dụng, phát triển nền tảng tư tưởng của mình, Đảng ta đã xác lập chủ trương chuyển đổi số nhằm phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, phù hợp với Chiến lược phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm việc với Bộ tư lệnh 86 và các cơ quan, đơn vị liên quan về công tác chuyển đổi số trong Bộ Quốc phòng (ngày 26-12-2025). Ảnh: Đức Anh

Thứ hai, chủ trương chuyển đổi số của Đảng phù hợp với quy luật phát triển khách quan của thời đại. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, đặc biệt là các công nghệ số như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (big data), điện toán đám mây, blockchain,… đã làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị đời sống xã hội. Trong điều kiện đó, chuyển đổi số không còn là xu hướng tùy chọn, mà trở thành yêu cầu tất yếu đối với mọi quốc gia - dân tộc, nếu muốn duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị nêu rõ: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”. Theo đó, chủ trương chuyển đổi số của Đảng phản ánh sự nhạy bén trong nhận thức quy luật khách quan của thời đại, đồng thời thể hiện tư duy khoa học, hiện đại trong hoạch định đường lối phát triển đất nước.

Thứ ba, chủ trương chuyển đổi số của Đảng được xác định có mục tiêu, lộ trình thực hiện rõ ràng. Chủ trương đó không hề tự phát, mà được triển khai bài bản, theo định hướng chiến lược và nằm trong tổng thể “Chương trình chuyển đổi số quốc gia”, nhằm xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số. Những mục tiêu này được lượng hóa bằng các chỉ tiêu, gắn với từng giai đoạn phát triển của đất nước, có tính khả thi. Đồng thời, hệ thống các chính sách, giải pháp được triển khai đồng bộ trên nhiều phương diện như: Hoàn thiện thể chế phát triển, phát triển hạ tầng số, xây dựng nền tảng dữ liệu, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, tăng cường an toàn thông tin, an ninh mạng. Cách tiếp cận hệ thống này cho thấy rõ tư duy khoa học trong hoạch định chủ trương chuyển đổi số của Đảng.

Thứ tư, chủ trương chuyển đổi số của Đảng lấy “Người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, là chủ thể, nguồn lực và là động lực chính”. Điều này được thể hiện qua mục tiêu đến năm 2030 “Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo, trung tâm phát triển một số ngành, lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mà Việt Nam có lợi thế”. Mục tiêu này cùng với tầm nhìn đến năm 2045 không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, mà còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân nói chung, thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng.

2.2. Tính cách mạng của chủ trương chuyển đổi số

Bên cạnh tính khoa học, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số còn thể hiện rỗ tính cách mạng thông qua mức độ thay đổi sâu sắc, toàn diện, triệt để mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Thứ nhất, chủ trương chuyển đổi số tạo ra sự thay đổi căn bản trong phương thức quản trị quốc gia. Từ nền hành chính vận hành dựa nhiều vào giấy tờ, thao tác thủ công, chủ trương “chuyển đổi số” hướng tới nền hành chính công hiện đại, vận hành dựa trên dữ liệu và công nghệ; đồng thời, việc huy động nguồn lực, hoàn thiện thể chế, trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò người dân, doanh nghiệp... Theo đó, các quy trình quản trị quốc gia được tự động hóa dựa trên công nghệ số, giúp giảm thiểu thời gian chờ đợi, nâng cao hiệu quả xử lý công việc dựa trên phân tích dữ liệu đáp ứng nhu cầu của người dân, doanh nghiệp.

Thứ hai, chủ trương chuyển đổi số tạo động lực mạnh mẽ cho đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế quốc gia. Chủ trương này của Đảng được Chính phủ cụ thể hóa bằng “Chương trình chuyển đổi số quốc gia”, qua đó hoạch định lại mô hình tăng trưởng theo hướng tăng trưởng xanh dựa trên công nghệ số, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, vì mục tiêu phát triển nhanh, bền vững. Đây là sự thay đổi mang tính cách mạng, đồng thời khẳng định rõ chủ trương nhất quán của Việt Nam về mô hình tăng trưởng không còn dựa nhiều vào tài nguyên thiên nhiên, nhân công giá rẻ, mà dựa vào nhân lực chất lượng cao, với công nghệ số hiện đại, giảm phát thải và tác động vào môi trường.

Thứ ba, chủ trương chuyển đổi số tạo ra sự thay đổi căn bản phương thức sống, làm việc và giao tiếp của xã hội. Các hoạt động như học tập trực tuyến, làm việc từ xa, mua sắm online, thanh toán không dùng tiền mặt,… ngày càng phổ biến trong đời sống xã hội. Điều này, không chỉ nâng cao tính hiệu quả và tiện ích, mà còn hình thành một nếp sống số, trong đó công nghệ số trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của người dân, doanh nghiệp. Sự thay đổi sâu rộng này chính là biểu hiện rõ ràng nhất về tính cách mạng của chủ trương chuyển đổi số.

Từ những luận giải ở trên cho thấy, chủ trương chuyển đổi số của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, thể hiện tư duy chiến lược phù hợp với quy luật khách quan của thời đại và đáp ứng mong mỏi của người dân, doanh nghiệp. Điều này khác hoàn toàn với các luận điệu xuyên tạc mà các thế lực thù địch rêu rao.

Lãnh đạo Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam kiểm tra công tác ứng dụng chuyển đổi số vào hoạt động chuyên môn tại Báo Quân đội nhân dân. Ảnh: Tuấn Huy

3. Định hướng giải pháp đấu tranh, phản bác sự xuyên tạc chủ trương “chuyển đổi số” của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới

Trong bối đất nước ta bước vào kỷ nguyên phát triển mới, đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục lợi dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội và các nền tảng trực tuyến để tăng cường xuyên tạc, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng nói chung, chủ trương chuyển đổi số nói riêng, hòng làm suy giảm niềm tin của người dân, doanh nghiệp, phá hoại chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Do đó, việc nghiên cứu, xây dựng và triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thù địch là vấn đề cấp thiết hiện nay.

Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng và mọi người dân trong thực hiện chuyển đổi số.

Trong kỷ nguyên phát triển vươn mình của dân tộc, chuyển đổi số là xu thế không thể đảo ngược và được Đảng ta khẳng định: “Đây là cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực; được triển khai quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, nhất quán, lâu dài với những giải pháp đột phá, mang tính cách mạng”.

Mặc dù vậy, nếu không nhận thức đầy đủ quan điểm, mục tiêu và các nhiệm vụ, giải pháp theo chủ trương của Đảng, thì dễ dẫn đến cách hiểu phiến diện, thậm chí là hiểu sai vấn đề, từ đó tạo cơ hội cho các thế lực thù địch tập trung chống phá. Theo đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng sâu rộng trong toàn Đảng, hệ thống chính trị và toàn dân về quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của chủ trương này trong Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; làm cho cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, các doanh nghiệp nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về bản chất của chủ trương chuyển đổi số, nhất là mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, đặc biệt là bảo đảm cho quy trình chuyển đổi số trực tiếp phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, cần chú ý khắc phục nhận thức chưa đầy đủ khi chỉ nhìn thấy những khó khăn trước mắt của lộ trình chuyển đổi số, mà bỏ qua lợi ích lâu dài từ hiệu quả mà chủ trương này mang lại cho đời sống xã hội. Khi nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về chủ trương chuyển đổi số thông suốt, thì các thế lực thù địch khó có cơ hội để xuyên tạc, phủ nhận.

Huấn luyện chuyên sâu về chuyển đổi số và an toàn thông tin tại Trung tâm 386, Bộ tư lệnh 86. Ảnh: Phạm Công

Thứ hai, chủ động cung cấp thông tin chính thống kịp thời và minh bạch.

Trong kỷ nguyên số hóa, các thông tin chính thống được cung cấp kịp thời, minh bạch có tác dụng đặc biệt quan trọng để định hướng dư luận xã hội. Tuy nhiên, nếu chưa làm tốt điều này, nghĩa là còn khoảng trống thông tin, thì vẫn còn kẽ hở để các thế lực thù địch khai thác, chống phá. Do đó, các cơ quan chức năng cần tăng cường cung cấp thông tin chính thống thường xuyên, liên tục và kịp thời liên quan đến lộ trình triển khai thực hiện chủ trương chuyển đổi số, nhất là trước các diễn biến nhanh chóng của thực tiễn trên nền tảng số, nhất là qua truyền thanh, truyền hình, các trang website, blog, mạng xã hội, nền tảng trực tuyến và các ứng dụng đang được vận hành tốt như VNeID, TGDV, iHanoi, VTVgo, các trang fanpage, blog, youtube của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị,… để lan tỏa thông tin tích cực theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả thực tiễn của chủ trương chuyển đổi số.

Thực tiễn luôn là tiêu chuẩn để kiểm nghiệm chân lý. Điều này không chỉ là nội dung mang tính quy luật được chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, mà trong bối cảnh mới, chủ trương “chuyển đổi số” cần được nhanh chóng triển khai hiệu quả hơn trong thực tiễn mới là minh chứng sinh động, thuyết phục nhất để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, cũng như củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp.

Do đó, toàn hệ thống chính trị, nhất là các cơ quan chức năng, mà Bộ Khoa học và công nghệ là cơ quan trung tâm cần tham mưu, đề xuất với Đảng, Chính phủ các giải pháp căn cơ, để tập trung khắc phục dứt điểm theo đúng lộ trình những bất cập trong thực tiễn thực hiện chuyển đổi số, nhất là tình trạng “nửa vời” (nửa hồ sơ giấy tờ, nửa số hóa), thiếu liên thông dữ liệu giữa các cơ quan, hay quy trình còn phức tạp, chưa thân thiện với người dân, doanh nghiệp.

Ngoài ra, việc thiết kế quy trình số hóa các thủ tục hành chính cần bám sát nguyên tắc “lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm”, bảo đảm dễ sử dụng, thuận tiện và hiệu quả với mọi tầng lớp nhân dân, nhất là có kênh hỗ trợ với người yếu thế, người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn về hạ tầng công nghệ thông tin. Khi người dân, doanh nghiệp cảm nhận rõ lợi ích về rút ngắn thời gian, quy trình, tiết kiệm chi phí và tính hiệu quả cao từ chủ trương “chuyển đổi số”, thì họ sẽ trở thành “tấm khiên” vững chắc nhất, góp phần trực tiếp đấu tranh, phản bác hiệu quả các luận điệu xuyên tạc.

Thứ tư, phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên và lực lượng nòng cốt trong đấu tranh trên không gian mạng.

Đây là lực lượng có vai trò rất quan trọng trong lan tỏa thông tin tích cực, qua đó định hướng dư luận xã hội và đấu tranh, phản bác hiệu quả trước các luận điệu chống phá của các thế lực thù địch. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm, chủ động và thường xuyên, tích cực tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhất là khẳng định tính khoa học, cách mạng của chủ trương chuyển đổi số trên không gian mạng.

Đồng thời, cần phát huy hiệu quả việc tiếp tục xây dựng và phát triển lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên trách có trình độ, kỹ năng số, am hiểu công nghệ số, để kịp thời nhận diện, xử lý và đấu tranh, phản bác hiệu quả trước các luận điệu xuyên tạc. Coi trọng phát huy vai trò các cơ quan chức năng như Ban chỉ đạo 35 các cấp, cơ quan tuyên giáo và dân vận, cơ quan ngoại giao, lực lượng Quân đội, Công an, nhất là đẩy mạnh ứng dụng các phần mềm chặn, lọc thông tin, kịp thời phát hiện và có biện pháp kiên quyết gỡ bỏ thông tin sai trái được phát tán trên các nền tảng có thuật toán cao, do các cơ quan chủ quản ở nước ngoài điều hành.

Thứ năm, nâng cao kỹ năng số và năng lực phản biện cho người dân, doanh nghiệp; gắn công tác đấu tranh, phản bác với xây dựng và củng cố niềm tin xã hội.

Trong xã hội số, mỗi người dân, doanh nghiệp không chỉ là người tiếp nhận thông tin, mà còn là người tạo ra, lan truyền thông tin và phản ứng trước các luồng thông tin khác nhau. Do đó, việc bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng số và năng lực phản biện cho người dân, doanh nghiệp trước các thủ đoạn xuyên tạc rất tinh vi của các thế lực thù địch là hết sức cần thiết. Chỉ khi người dân, doanh nghiệp có đủ năng lực phân tích, đánh giá, phản biện chính xác nội dung thông tin, họ sẽ không bị tác động bởi các luận điệu xuyên tạc.

Vì vậy, cần đẩy mạnh bồi dưỡng người dân, doanh nghiệp về kỹ năng số và năng lực phản biện trên các nền tảng trực tuyến, truyền thanh, truyền hình, Internet và mạng xã hội; kết hợp với bồi dưỡng qua vai trò của đoàn thanh niên, phụ nữ ở địa phương với các nhóm người yếu thế hoặc người dân có hạn chế về kỹ năng số và năng lực phản biện. Bên cạnh trang của Chính phủ, cấp ủy, chính quyền các địa phương cần xây dựng kênh hỗ trợ trực tuyến trên cơ sở ứng dụng AI vào quy trình hỗ trợ và triển khai đa dạng các hình thức, phương pháp trong thực hiện “Phong trào bình dân học vụ số”.

Mặt khác, quá trình triển khai lộ trình chuyển đổi số, cần gắn công tác đấu tranh, phản bác với xây dựng và củng cố niềm tin xã hội. Mục tiêu của đấu tranh không chỉ là bác bỏ thông tin sai trái, mà vấn đề quan trọng hơn là cần tạo dựng sự đồng thuận và củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp và toàn xã hội với chủ trương chuyển đổi số. Điều này đòi hỏi các cấp, các ngành từ Trung ương đến chính quyền cơ sở phải đẩy mạnh việc lan tỏa sâu rộng các mô hình sáng tạo, cách làm hay, có tính hiệu quả cao, những câu chuyện, mô hình thực hiện thành công chuyển đổi số không chỉ trong thủ tục hành chính, mà còn là chuyển đổi mô hình sản xuất, kinh doanh, huy động nguồn lực Nhà nước, người dân, doanh nghiệp và nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, giá trị thương hiệu và điều phối cung ứng nguyên, nhiên liệu cũng như tiêu thụ sản phẩm thân thiện môi trường, … Khi những kết quả tích cực được nhân rộng, rõ ràng lòng tin của người dân, doanh nghiệp và toàn xã hội sẽ được củng cố, trở thành “lá chắn từ sớm, từ xa” trước mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Tóm lại, các luận điệu xuyên tạc, quy kết chủ trương chuyển đổi số của Đảng “gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp” là sai trái, phiến diện, vô căn cứ, nhằm phủ nhận tính khoa học, cách mạng của chủ trương này. Cả cơ sở lý luận và thực tiễn triển khai thực hiện chủ trương này của Đảng đã phản ánh rõ tư duy chiến lược trong hoạch định đúng đường lối của Đảng, qua đó khẳng định vai trò động lực quan trọng của chủ trương chuyển đổi số trong nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân, doanh nghiệp. Mặc dù vẫn còn những khó khăn, vướng mắc nhất định, song chuyển đổi số tất yếu sẽ thành công. Những hạn chế, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện sẽ sớm được khắc phục triệt để, qua đó thực sự đặt “người dân, doanh nghiệp làm trung tâm” của chiến lược phát triển.

Với ý nghĩa đó, cùng với việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; phát huy vai trò các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong chuyển đổi số, thì mỗi người dân, doanh nghiệp cũng cần tích cực, chủ động nâng cao hơn nữa năng lực số. Đồng thời, thường xuyên đề cao cảnh giác cách mạng, kịp thời nhận diện và kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; cùng chung tay, góp sức thực hiện thắng lợi chủ trương chuyển đổi số của Đảng, góp phần đưa nước ta ngày càng phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ đã hằng mong ước.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, Hà Nội.

2. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, Hà Nội.

3. Chính phủ, Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tưởng Chính phủ, Phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, Hà Nội.

4. V.I. Lênin (2006), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 45.

5. C. Mác và Ph. Ăngghen (2000), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 46 (Phàn II).

6. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 13.

Đại tá, Ths NGUYỄN HỮU THÁI - Đại tá NGUYỄN VIẾT THỊNH - Trung tá QNCN ĐINH THỊ THU THỦY (Cục Cán bộ, Tổng cục Chính trị)

TIN LIÊN QUAN




































Home Icon VỀ TRANG CHỦ