PGS.TS Bùi Hoài Sơn đề xuất cơ chế 1%: Thổi 'hồn' vào những khối bê tông
Sáng ngày 20/4, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội đã nghe báo cáo về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam. Đây là văn bản được kỳ vọng sẽ tạo ra hành lang pháp lý đủ mạnh để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, động lực phát triển kinh tế - xã hội.
Trao đổi liên quan đến Nghị quyết, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho hay, dự thảo đã đi đúng và trúng vào những “điểm nghẽn” bấy lâu nay của ngành văn hóa, bao gồm: nguồn lực đầu tư, quỹ đất, hạ tầng kỹ thuật, công nghiệp văn hóa và đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Những đề xuất cụ thể như xác lập ngày Văn hóa Việt Nam là ngày 24 tháng 11, hay cam kết mức chi ngân sách nhà nước cho văn hóa tối thiểu đạt 2% đã tạo nên niềm tin lớn cho những người làm nghề.
Tuy nhiên, theo ông Sơn, cần dành khoảng 1% tổng mức đầu tư các công trình công cộng cho nghệ thuật, nhằm tạo “đầu ra” cho sáng tạo và nâng cao chất lượng thẩm mỹ không gian sống.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội.
Cần cơ chế 1% cho nghệ thuật trong đầu tư công
PGS.TS Bùi Hoài Sơn đề nghị, cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra nghiên cứu bổ sung thêm một cơ chế theo ông là rất cần thiết, rất thực tiễn, có ý nghĩa lâu dài đối với diện mạo văn hóa quốc gia. Đó là dành một tỷ lệ nhất định, có thể là 1% tổng mức đầu tư của các công trình hạ tầng công cộng, các công trình xây dựng công sử dụng vốn nhà nước hoặc vốn nhà nước chi phối, để đầu tư cho các hạng mục văn hóa, nghệ thuật gắn với chính công trình đó.
“Đây là một đề xuất không mới với thế giới, nhưng lại rất mới và rất cần đối với chúng ta hôm nay”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nói.
Lý giải về đề xuất này, ông Sơn cho hay, trong quá trình phát triển vừa qua, chúng ta đã dành rất nhiều nguồn lực cho giao thông, quảng trường, công viên, trường học, bệnh viện, nhà ga, sân vận động, trụ sở, khu đô thị, các công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Điều đó là đúng và cần thiết.
Nhưng có một thực tế là trong không ít trường hợp, chúng ta mới chú trọng đến công năng xây dựng mà chưa quan tâm đúng mức đến chiều sâu văn hóa và thẩm mỹ của không gian công cộng. Nhiều công trình có thể lớn, hiện đại, tốn kém, nhưng chưa tạo được dấu ấn thẩm mỹ, chưa truyền tải được tinh thần của nơi chốn, của địa phương và của quốc gia, và chưa góp phần nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ của người dân.”.
Theo ông, việc thiếu đi sự hiện diện của nghệ thuật trong các công trình công cộng không chỉ làm giảm giá trị tinh thần của không gian sống mà còn tước đi cơ hội sáng tạo của các nghệ sĩ ngay từ giai đoạn kiến tạo diện mạo đất nước.
Bài học quốc tế và mục tiêu hiện thực hóa công nghiệp văn hóa
Chứng minh tính khả thi của đề xuất, PGS.TS Bùi Hoài Sơn đã dẫn chứng nhiều kinh nghiệm quốc tế thành công.
Tại Pháp, chính sách "1% artistique" quy định chủ đầu tư công dành 1% chi phí xây dựng để đặt hàng hoặc mua một hay nhiều tác phẩm nghệ thuật được thiết kế riêng cho công trình công cộng; Bộ Văn hóa Pháp cũng xác định đây là một thủ tục đặt hàng nghệ thuật gắn với các công trình công.
Tại New York, chương trình Percent for Art yêu cầu 1% ngân sách của các dự án xây dựng đủ điều kiện do thành phố tài trợ phải được sử dụng cho tác phẩm nghệ thuật công cộng, mục tiêu của chương trình là đưa nghệ sĩ vào ngay từ quá trình thiết kế để làm phong phú các công trình dân sự và cộng đồng.
Philadelphia là thành phố tiên phong ở Mỹ, từ năm 1959 đã áp dụng mô hình 1% cho nghệ thuật đối với các công trình xây mới hoặc cải tạo lớn, và đến nay đã có hơn 650 tác phẩm nghệ thuật công cộng được hình thành từ chính sách này. Seattle cũng dành 1% vốn đầu tư xây dựng đủ điều kiện cho việc đặt hàng, mua sắm và lắp đặt tác phẩm nghệ thuật ở công viên, thư viện, trung tâm cộng đồng, đường phố, cầu và nhiều không gian công khác.
Điều đáng nói là các quốc gia, thành phố đó không coi nghệ thuật công cộng là một phần trang trí phụ thêm, càng không phải thứ xa xỉ chỉ làm khi có dư tiền. Họ coi đó là một phần của chất lượng phát triển.
“Bởi một con đường không chỉ để đi lại, mà còn góp phần hình thành ký ức đô thị. Một bệnh viện không chỉ để chữa bệnh, mà còn cần đem lại sự an ủi, nhân văn và niềm tin. Một trường học không chỉ để dạy chữ, mà còn phải nuôi dưỡng cảm xúc và trí tưởng tượng. Một quảng trường, một công viên, một nhà ga, một cây cầu... Nếu có sự hiện diện của nghệ thuật một cách tinh tế, bài bản, giàu bản sắc, thì nó không chỉ đẹp hơn, mà còn có hồn hơn, có câu chuyện hơn, có khả năng gắn kết cộng đồng mạnh hơn”, ông Sơn phân tích.
Theo ông Sơn, chúng ta đang nói rất nhiều đến công nghiệp văn hóa, đến thị trường nghệ thuật, đến phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ, đến xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đến nâng cao thẩm mỹ xã hội, đến xây dựng đô thị văn minh, hiện đại, giàu bản sắc. Nhưng nếu không tạo ra đầu ra cho sáng tạo, không tạo ra không gian sống cho nghệ thuật, không tạo ra cơ chế đặt hàng thường xuyên, ổn định, minh bạch và gắn với các công trình công cộng, thì những mục tiêu đó sẽ rất khó chuyển hóa thành hiện thực.
“Nói cách khác, muốn phát triển thị trường nghệ thuật, chúng ta không thể chỉ nói đến triển lãm, đấu giá hay sưu tập tư nhân; mà cần mở một không gian rất quan trọng là nghệ thuật trong đầu tư công và trong hạ tầng công cộng”, ông Sơn cho hay.
Ông Sơn cho rằng nếu không tạo ra được “đầu ra” cho sự sáng tạo thông qua các cơ chế đặt hàng công cộng minh bạch và ổn định, thì các mục tiêu xây dựng thị trường nghệ thuật hay môi trường văn hóa lành mạnh sẽ rất khó thành hiện thực. Việc mở ra không gian nghệ thuật trong đầu tư công chính là cách để nuôi dưỡng đội ngũ văn nghệ sĩ và nâng cao thẩm mỹ xã hội một cách trực tiếp nhất.
Cụ thể về phương thức triển khai, ông đề nghị các hạng mục nghệ thuật này có thể bao gồm tượng đài, phù điêu, tranh tường, tranh kính, sắp đặt nghệ thuật, điêu khắc ngoài trời cho đến các thiết kế chiếu sáng nghệ thuật gắn với kiến trúc. Tùy theo quy mô và tính chất của từng công trình như bệnh viện, trường học, bảo tàng hay các dự án nhà ở xã hội quy mô lớn, nhà nước có thể quy định mức trần, mức sàn chi phí hoặc phân nhỏ công trình để đảm bảo tính khả thi trong thực hiện.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, nếu triển khai cơ chế này, không chỉ bổ sung một chính sách tốt cho văn hóa mà còn tạo cách thức cụ thể để đưa văn hóa thấm vào phát triển.
Làm rõ con số 2% chi cho văn hóa
Góp ý về dự toán ngân sách hàng năm, đại biểu Nguyễn Phương Thủy (Đoàn ĐBQH TP Hà Nội) cho rằng, mặc dù chúng ta luôn có dòng chi cho văn hóa lồng ghép trong nhiều mục chi của các cơ quan từ Trung ương đến địa phương, nhưng khái niệm chi cho văn hóa vẫn cần được hiểu và định nghĩa lại một cách thực chất.
Theo đại biểu, các Nghị quyết vừa qua đều đưa ra những chỉ tiêu rất cụ thể như chi cho hoàn thiện thể chế, khoa học công nghệ, giáo dục hay văn hóa. Tuy nhiên, nếu đối chiếu với dự toán ngân sách nhà nước hàng năm thì rất khó đánh giá có đảm bảo yêu cầu hay không.
“Cùng là 2% cho văn hóa nhưng không phải tỉnh, thành phố nào cũng phải bỏ ra đúng mức đó. Những đầu tàu như Hà Nội chi có thể nhiều hơn, nhưng địa phương khác mức độ có thể thấp hơn tùy nhu cầu. Quan trọng là tính tập trung của cả quốc gia phải đảm bảo mức 2%. Tôi cho rằng đây là việc phải làm thực chất chứ không phải chép lại một câu trong Nghị quyết 80”, bà Thủy nhấn mạnh.
Mời quý độc giả xem video: Người dân nô nức tham gia ngày hội bầu cử 15/03/2026.
Mai Loan
3 giờ trước
4 giờ trước