🔍
Chuyên mục: Du lịch

Núi Dành - Nơi hội tụ những di sản văn hóa đặc sắc

1 giờ trước
Núi Dành hay còn gọi là núi Chung Sơn có độ cao hơn 100 mét so với mực nước biển. Nơi đây có loài thảo mộc quý sâm Nam tiến vua, có hội đền Dành nức tiếng. Núi Dành cũng là điểm du lịch tâm linh - sinh thái với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp.

Núi Dành nằm trên địa bàn xã Phúc Hòa, thành phố Bắc Ninh. Khu vực này có cảnh quan thiên nhiên đẹp với rừng thông khoảng 50 năm tuổi. Đến với núi Dành, nhiều người cảm tưởng như đến với rừng thông xanh ở Đà Lạt. Sách “Đại Nam nhất thống chí” có ghi rằng: “Núi Chung Sơn ở xã Bảo Sơn thuộc địa giới huyện Yên Thế, sản xuất ra sâm Nam và cỏ thi”. Sâm Nam nổi tiếng đã đi vào ca dao và là niềm tự hào của người dân nơi đây: “Sâm Nam nổi tiếng núi Dành/Chợ đầy nhan nhản những hành Chung Sơn”.

Nghi lễ rước kiệu trong lễ hội đền Dành.

Cũng là chuyện cây sâm Nam núi Dành, trong dân gian kể rằng: Có hai mẹ con nhà nọ nương tựa vào nhau mà sống. Một hôm, người mẹ đột ngột lâm bệnh nặng nhưng nhà không có tiền chạy chữa. Anh con trai đành lên núi tìm thuốc chữa bệnh cho mẹ. Đi đến gần tối vẫn không được gì, chàng trai ngồi nghỉ rồi ngủ thiếp đi dưới một gốc đại thụ lớn ở lưng chừng núi Dành. Trong giấc mơ, anh thấy mình tìm được gốc sâm cứu mẹ. Tỉnh giấc, bàn tay vẫn nắm chặt một thân dây rất nhỏ. Đưa lên ngửi, anh mới hay mình đã tìm ra cây sâm tiên nên vội đào củ đem về sắc thuốc cho mẹ uống. Được uống sâm quý, người mẹ ít ngày sau liền khỏi ốm.

Những câu chuyện về công dụng của loài sâm quý này càng trở nên ly kỳ, hấp dẫn hơn và được ví như “tiên dược” khi giúp mẹ vua Tự Đức là Hoàng thái hậu Từ Dũ (Từ Dụ) sáng mắt trở lại. Chuyện kể rằng thời vua Tự Đức, mẹ vua bị lòa mắt. Thương mẹ, nhà vua đã tìm mọi thảo dược quý hiếm cũng như các bậc lang y tài giỏi lúc bấy giờ cứu chữa song bệnh ngày càng nặng. Các lang y kỳ tài, những phương thuốc hay đều đã dùng cả nhưng không có kết quả. Vào lúc nhà vua vô vọng, một vị quan dâng lên một loài sâm quý tại vùng núi Dành. Chẳng ngờ, sâm quý như thuốc tiên đã giúp đôi mắt thân mẫu nhà vua sáng trở lại.

Đường lên đền Dành.

Bởi thế nên mới có câu ca: “Sâm Nam nổi tiếng núi Dành/Chữa lòa cho mắt lại lành như xưa”. Cũng từ đó, sâm núi Dành được ví như kỳ thảo, tiên dược, trở thành sản vật quý hiếm tiến vua hằng năm. Ngày nay, tại địa phận xã Phúc Hòa đã thành lập Hợp tác xã trồng sâm, nhân giống cho bà con cùng trồng, các sản phẩm từ sâm như trà hoa sâm, rượu sâm, sâm mật ong… đã được công nhận là sản phẩm OCOP.

Quanh địa phận núi Dành có các làng cổ, gắn với các làng đó là những di tích đã có từ mấy trăm năm như lăng quan Thái Bảo, chùa Thú, chùa không Bụt, đình Vường… đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh, quốc gia. Hằng năm, các di tích này đều có sự lệ vào mùa xuân. Do vậy, hội núi Dành càng thêm long trọng, nhộn nhịp.

Thi thổi cơm tại lễ hội đền Dành.

Lễ hội đền Dành ban đầu là hội ba đình gồm đình Giữa, đình Đinh, đình Vường và được tổ chức vào ngày 19, 20, 21 tháng Giêng. Vào giữa thế kỷ XVII, Nhân dân xã Chung Sơn xây dựng đình làng gọi là đình Giữa, thờ Cao Sơn, Quý Minh làm Thành hoàng làng, phía sau có dựng chùa thờ Phật. Nhân dân quanh vùng về đình Giữa để tổ chức tế lễ, làm hội lớn. Sau đó vì nhiều lý do mà Nhân dân các làng trong xã tách ra làm đình thờ riêng của làng mình.

Đầu tiên làng Hậu xây đình Vường, sau đến làng Đông (tức là thôn Sấu, thôn Bến sau này) dựng đình Đanh. Người dân làng Nguộn, làng Hương tiếp tục trông coi đình Giữa để thờ cúng và tế lễ Thành hoàng làng ở đây. Các làng tách ra xây dựng đình riêng xong vẫn rước hai vị Cao Sơn, Quý Minh về thờ tại làng mình. Do cả ba ngôi đình vẫn thờ chung hai vị Thành hoàng làng nên Nhân dân các làng này đã bàn bạc, thống nhất tổ chức chung lễ hội và gọi là hội ba đình, vẫn lấy các ngày 19, 20, 21 tháng Giêng là ngày lễ hội chung. Các cửa đình thay phiên nhau đứng ra đăng cai tổ chức lễ hội.

Lễ hội ba đình được duy trì đến năm 1944 thì bị gián đoạn do chiến tranh, loạn lạc. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đình Giữa và đình Đanh bị tàn phá, hư hỏng hoàn toàn nên hội ba đình nhiều năm không tổ chức được. Đến năm 1987, Nhân dân địa phương đã khôi phục lại lễ hội truyền thống xưa nhưng do không còn hai đình Giữa và đình Đanh nên chỉ tổ chức ở đình Vường.

Thi kéo co trong ngày hội.

Từ năm 1990, di tích đền Dành (đền Thượng, đền Trình) và không gian cảnh quan núi Dành được tu bổ khang trang, lễ hội được tổ chức ở khu núi Dành là chính và lấy tên là lễ hội đền Dành. Từ năm 2003, lễ hội đền Dành được tổ chức với quy mô cấp huyện, được Nhân dân các thôn trong xã Liên Chung cũ gồm thôn Hậu, Sấu, Bến, Hương, Nguộn cùng tham gia. Ngày nay, lễ hội đền Dành được tổ chức với quy mô cấp xã và được diễn ra theo nghi thức truyền thống của địa phương, các thôn cùng nhau rước Thành hoàng làng từ đình Vường ra đền trình, đền thượng làm lễ tế.

Đi trẩy hội núi Dành ai cũng hồ hởi bởi mỗi người không chỉ lễ đền cầu may, cầu phúc, cầu cho dân an vật thịnh… mà còn leo núi ngắm nhìn phong cảnh quê hương hiện lên như gấm, như hoa. Vì thế, có bài thơ rằng: “Núi Dành mây bao che/ Chùa cổ trong tùng bách/ Sông Thương nước vòng quanh/ Xóm làng khói thấp thoáng/ Chống gậy lên đỉnh núi/ Xem ngắm cảnh gấm hoa/ Gió đưa tình ngoạn mục/ Chiêng trống giục trẻ già/ Buổi sớm mặt trời lên/ Đồng quê xanh sắc lúa/ Bên núi đề thơ xuân/ Gửi khách về hội Dành”.

Về với lễ hội đền Dành là dịp Nhân dân, du khách hướng về cội nguồn, tưởng nhớ, tôn vinh các bậc hiền tài của dân tộc, tham quan những di tích và danh thắng linh thiêng trên mảnh đất Phúc Hòa. Đặc biệt, du khách còn được thưởng thức các loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo như hát ví, hát ống... cùng những trò diễn dân gian đặc sắc, các đặc sản như sâm Nam núi Dành, nem nướng nổi tiếng xưa nay.

Với tiềm năng du lịch sẵn có, những nét văn hóa đặc sắc, sự quan tâm, đầu tư của các cấp chính quyền, núi Dành sẽ là điểm đến hấp dẫn đối với du khách.

Dương Thị Ánh, Bảo tàng Bắc Ninh














Home Icon VỀ TRANG CHỦ