🔍
Chuyên mục: Thời sự

Những năm tháng hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Trung Quốc

2 giờ trước
Báo Thế giới & Việt Nam giới thiệu bài viết của TS. Đặng Thị Thúy Hà, Viện Nghiên cứu châu Á-Thái Bình Dương, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam về những năm tháng hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Trung Quốc.

Trong những năm tháng hoạt động cách mạng tại nước ngoài, Trung Quốc là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh có thời gian hoạt động lâu nhất với 12 năm.

Mỗi nơi trên đất Trung Quốc mà Người đi qua đều để lại nhiều dấu ấn của tình hữu nghị sắt son, bền chặt trong sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Từ Quảng Châu, Quế Lâm, Côn Minh, Long Châu, Tĩnh Tây đến Bắc Kinh, mỗi chặng đường hoạt động của Người đều gắn với việc gây dựng lực lượng cách mạng Việt Nam, mở rộng quan hệ quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè Trung Quốc và bồi đắp nền tảng hữu nghị giữa hai dân tộc.

Chính từ thực tiễn ấy, sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào năm 1930, quan hệ giữa hai nước trở thành “vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Và sau khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1950, mối quan hệ đó được nâng lên một tầm cao mới, mang màu sắc xã hội chủ nghĩa ngày càng rõ nét.

Dấu ấn hoạt động cách mạng của Người tại Trung Quốc

Quảng Châu - trung tâm cách mạng của Trung Quốc - là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh có thời gian lưu lại lâu nhất, nhiều hoạt động đặt nền tảng cho sự liên kết giữa cách mạng hai nước nhất.

Dưới sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc và các tổ chức cách mạng Trung Quốc, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức các lớp huấn luyện chính trị đặc biệt để đào tạo lớp cán bộ chủ chốt đầu tiên của cách mạng Việt Nam. Một số lãnh đạo Tỉnh ủy Quảng Đông của Đảng Cộng sản Trung Quốc như Chu Ân Lai đã trực tiếp tham gia giảng dạy các lớp học này.

Tuần báo Thanh niên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên được bí mật chuyển về Việt Nam dưới sự trợ giúp của Liên đoàn thủy thủ do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo, đã phát huy vai trò thiết thực trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và chuẩn bị về tư tưởng cho sự ra đời của một chính đảng vô sản ở Việt Nam.

Năm 1930, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức thành công cuộc họp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Cửu Long, Hong Kong, có sự tham dự của đại diện Đảng Cộng sản Trung Quốc. Như vậy, ngoài sự đồng cảm chính trị, trong giai đoạn này, hai bên đã có sự hợp tác thực tế về tổ chức và con người.

Trong những năm 1930-1940, dù tình hình biến động, mối liên hệ giữa hai Đảng Cộng sản vẫn được duy trì thông qua các kênh liên lạc, hỗ trợ in ấn và vận chuyển tài liệu.

Đặc biệt, giai đoạn 1938-1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động tại Hoa Nam với bí danh Hồ Quang, tham gia công tác tại cơ quan của lực lượng cách mạng Trung Quốc, đồng thời khôi phục liên lạc với tổ chức trong nước. Có thể thấy, Trung Quốc thời kỳ này vừa là nơi trú chân, vừa là căn cứ chiến lược chuẩn bị cho sự trở về lãnh đạo cách mạng Việt Nam năm 1941 của Người.

Mối quan hệ khăng khít với các nhà lãnh đạo Trung Quốc

Ngay từ đầu những năm 1920, với bí danh Nguyễn Ái Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xây dựng quan hệ với các nhà hoạt động cách mạng và các lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tạo nên một mạng lưới chính trị và quan hệ thắm thiết có ý nghĩa lâu dài đối với cả cách mạng Việt Nam lẫn quan hệ Việt-Trung sau này.

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh giao thiệp với họ bằng sự chân thành và thực tế. Dù ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, hay sau khi trở về Việt Nam, dù là một nhà cách mạng tham gia các hoạt động bí mật hay sau này là người đứng đầu Nhà nước, Người luôn quan tâm đến sự nghiệp cách mạng Trung Quốc và là một trong những người bạn nước ngoài khích lệ cách mạng Trung Quốc nhất, nhờ đó giành được sự kính trọng và ủng hộ của các lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Chủ tịch Mao Trạch Đông xem việc giúp đỡ Việt Nam là nghĩa vụ quốc tế của Trung Quốc; Thủ tướng Chu Ân Lai là một trong những người trực tiếp đón tiếp, trao đổi, sắp xếp các công việc đối ngoại quan trọng; còn Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ đóng vai trò tích cực trong thúc đẩy quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao và tổ chức viện trợ cho Việt Nam.

Sau này, tại buổi tiệc chiêu đãi Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai nhân chuyến thăm chính thức đầu tiên của ông tới Việt Nam vào năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giới thiệu Thủ tướng Chu Ân Lai là “người anh em của tôi... là người đồng chí thân thiết của tôi hơn ba mươi năm nay”.[1]

Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai từng nói rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người anh cả của ông. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết tình hữu nghị do các bậc tiền bối cách mạng của hai nước vun đắp qua câu thơ “Mối tình thắm thiết Việt - Hoa; Vừa là đồng chí, vừa là anh em”[2].

Có thể nói, bên cạnh tình hữu nghị truyền thống giữa Trung Quốc và Việt Nam cũng như tình đồng chí thân thiết giữa hai Đảng, vai trò cá nhân của các lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước cũng đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển quan hệ song phương.

Ngay sau khi nhận được yêu cầu thiết lập quan hệ ngoại giao từ phía Việt Nam, Chủ tịch Mao Trạch Đông (khi đó đang ở Liên Xô) đã lập tức trả lời: “Chúng ta nên lập tức trả lời và đồng ý với yêu cầu của Chính phủ Việt Nam về việc thiết lập quan hệ ngoại giao”[3].

Tiếp đó, ngày 18/1/1950, Chính phủ Trung Quốc nêu rõ: “Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẵn sàng thiết lập quan hệ ngoại giao với Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Việt Nam và trao đổi Đại sứ, nhằm củng cố quan hệ ngoại giao giữa hai nước và tăng cường tình hữu nghị và hợp tác”[4], mở ra chương mới cho quan hệ song phương.

Sợi dây liên kết cách mạng Việt-Trung

Có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là sợi dây liên kết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Trung Quốc.

Trước hết, Người đã đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào yêu nước Việt Nam trong mối liên hệ chặt chẽ với phong trào cộng sản quốc tế và kinh nghiệm cách mạng Trung Quốc. Qua đó, hai cuộc cách mạng ở hai nước đã được gắn kết với nhau bởi mục tiêu chống đế quốc, giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thứ hai, Người đã tạo sự kết nối thông qua con người và mạng lưới tổ chức cụ thể. Thông qua các mối quan hệ với các nhà lãnh đạo Trung Quốc, Người đưa nhiều thanh niên Việt Nam vào học tại Học viện Quân sự Hoàng Phố, tham gia các cơ sở đào tạo nông dân và tiếp cận môi trường tổ chức hiện đại của phong trào cách mạng Trung Quốc.

Thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhìn cách mạng Việt Nam trong tương quan với cách mạng Trung Quốc và cục diện chống đế quốc ở châu Á. Người không chỉ tranh thủ sự giúp đỡ của cách mạng Trung Quốc cho Việt Nam, mà còn tích cực bày tỏ sự ủng hộ đối với nhân dân Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Nhật khi trực tiếp viết báo, vận động dư luận và cổ vũ tinh thần đoàn kết quốc tế. Nhân dân hai nước có những hành động thiết thực ủng hộ, tạo điều kiện để lực lượng cách mạng mỗi bên tồn tại, phát triển trong những giai đoạn khó khăn nhất.

Cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên những căn cứ cách mạng xuyên biên giới.

Dưới sự thúc đẩy của Người, biên giới phía Bắc của Việt Nam và khu vực Quảng Tây, Vân Nam không chỉ là nơi qua lại, mà còn là không gian phối hợp của cách mạng hai nước. Hai bên đã giúp đỡ nhau thành lập các trạm liên lạc, cơ sở hậu cần, lớp huấn luyện, cơ quan báo chí, thậm chí cả những cơ sở của lực lượng vũ trang trong từng thời điểm lịch sử.

Những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được ghi nhận như một biểu tượng sinh động của tình hữu nghị Việt-Trung. Nhiều địa phương của Trung Quốc hiện nay vẫn bảo tồn các nhà lưu niệm, các khu di tích gắn liền với dấu ấn hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Di sản lớn nhất Người để lại không chỉ là sự mở đầu cho một giai đoạn hữu nghị Việt-Trung, mà còn là một phương thức kiến tạo quan hệ láng giềng bền vững dựa trên ba tầng gắn kết: Lãnh đạo, Đảng và nhân dân. Bởi vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là sợi dây liên kết bền bỉ nhất giữa hai cuộc cách mạng trong thế kỷ XX, đồng thời vẫn là điểm tựa tư tưởng quan trọng cho việc xây dựng quan hệ song phương ổn định, thực chất và có trách nhiệm trong thế kỷ XXI.

----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

[1] Hoàng Tranh, 2012, Bí mật các quyết định quan trọng của Trung Quốc trong việc hỗ trợ Việt Nam chống Pháp, Tư liệu văn sử Vũ Hán, số 10 năm 2012

[2] Báo Nhân dân, ngày 11 tháng 5 năm 1963.

[3] Bùi Kiến Chương, 1994, Lịch sử ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 1946-1956, NXB Tri thức thế giới, Bắc Kinh, trang 89.

[4] Trung tâm lưu trữ Bộ Ngoại giao nước CHND Trung Hoa, NXB Họa báo Nhân dân (biên tập), 2006, Giải mã văn kiện ngoại giao: Hồ sơ thiết lập quan hệ ngoại giao nước CHND Trung Hoa (1945-1955), NXB Họa báo Nhân dân, trang 245.

TS. Đặng Thị Thúy Hà

TIN LIÊN QUAN



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ