Những 'mạch ngầm' làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ
Người y tá và cuộc chiến giành giật sự sống từ tay tử thần
Điểm dừng chân đầu tiên của chúng tôi là nhà ông Đàm Quang Lợi tại xóm Nà Niền, xã Nam Tuấn, người y tá của Đội điều trị 6 (Cục Quân y) năm xưa. Ngôi nhà vườn rộng rãi đủ không gian cho ông đọc báo dưới ánh nắng mỗi buổi sáng. Ở tuổi xưa nay hiếm, ký ức của ông về 56 ngày đêm "khoét núi, ngủ hầm" vẫn vẹn nguyên, khốc liệt và hào hùng như vừa mới hôm qua.
Cuối năm 1953, sau khóa học y tá cấp tốc tại Thái Nguyên, ông Đàm Quang Lợi cùng đơn vị hành quân lên Tây Bắc. Những bước chân không mỏi đi qua Thu Cúc, Quang Huy, qua ngã ba Cò Nòi, Hát Lót để tiến vào chảo lửa Điện Biên. Ông được phân công về Đội điều trị 6, đóng quân giữa những cánh rừng rậm rạp, nơi được coi là "trạm dừng" cuối cùng của những người lính từ mặt trận trở về.
Trong ký ức của người cựu quân y 96 tuổi, Điện Biên Phủ không chỉ có pháo nổ vang trời mà còn là những đêm không ngủ giữa rừng sâu. "Rừng rộng thế mà đêm nào thương binh cũng nằm chật kín. Vừa chuyển đợt này đi, sáng sau đã lại đầy người. Người mất hàm, người cụt chân, đủ các loại vết thương khốc liệt", ông Lợi bùi ngùi kể lại. Dưới ánh đèn dầu lờ mờ trong hầm hào, đội ngũ y bác sĩ đã thực hiện những ca mổ xuyên đêm, băng bó trong điều kiện thiếu thốn đủ đường.
"Có những đồng chí chưa kịp ra viện đã lại trúng đạn, quay lại điều trị đến lần thứ ba. Vết thương cũ chưa lành, vết thương mới đã chồng lên, nhưng cứ tỉnh dậy là họ lại đòi ra trận", ông Lợi nhớ lại. Với ông Lợi, mỗi ca cấp cứu lúc đó không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn, mà là cuộc chiến giành giật từng hơi thở cho đồng đội để bảo toàn lực lượng cho ngày toàn thắng.
Ông Lợi nhớ như in sự chuyển biến chiến lược từ "đánh nhanh, thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Hình ảnh những đoàn quân hò dô ta kéo pháo vượt dốc, rồi lại kéo pháo ra để đảm bảo thắng lợi cuối cùng đã trở thành biểu tượng của sự kiên nhẫn và kỷ luật thép. "Pháp nghĩ mình không thể kéo pháo lên núi cao được, nhưng chúng không ngờ Việt Minh làm được hết", ông Lợi tự hào nói.
Khi pháo ta đã đặt được trên núi, từ trên cao bắn xuống từng chốt điểm, quân địch hoàn toàn tê liệt. Từ đồi Him Lam, Độc Lập cho đến trận đánh giành giật từng mét đất ở đồi A1, người y tá Đàm Quang Lợi luôn bám sát mặt trận. Ông chứng kiến những đường hào dài hàng trăm cây số bao vây chặt sân bay Mường Thanh, cắt đứt nguồn sống của địch. Cảnh tượng máy bay Pháp thả dù tiếp tế nhưng lương thực, đạn dược lại rơi vào trận địa của ta đã trở thành minh chứng cho sự bế tắc của thực dân Pháp trước thế trận lòng dân.
Đỉnh điểm của ký ức là ngày 7/5/1954. Sau khi khối bộc phá gần một tấn nổ tung tại đồi A1 làm rung chuyển cả cánh đồng Mường Thanh, quân ta tổng công kích vào trung tâm chỉ huy của địch.
Khoảnh khắc lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" tung bay trên nóc hầm De Castries, ông Lợi và các đồng đội vỡ òa trong sung sướng. Hình ảnh lính Pháp kéo cờ trắng ra hàng, lầm lũi đi giữa hai hàng súng của các chiến sĩ Việt Nam nhỏ thó nhưng hiên ngang đã khắc sâu vào tâm khảm ông: "Lúc thắng rồi, vất vả khổ cực thế nào cũng tan biến hết. Anh em ôm nhau hát hò giữa rừng, vắt cắn máu chảy ròng ròng mà không thấy đau, chỉ thấy tự hào khôn xiết".

Người lính quân y Đàm Quang Lợi năm nào giờ đã 96 tuổi.
Người giữ "nhịp đập" mệnh lệnh dưới hầm Đại tướng
Trong khi ông Lợi hết lòng phục vụ thương bệnh binh, thì tại Sở Chỉ huy chiến dịch, một cuộc chiến khác cũng diễn ra lặng lẽ nhưng không kém phần khẩn trương. Đó là "cuộc chiến" của những bản mệnh lệnh thép. Chúng tôi tìm về tổ dân phố Bến Đò, phường Thục Phán để thăm một "chân chạy" văn thư đặc biệt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Đại tá Nguyễn Khánh Trung (bí danh Can Chi).
Ở tuổi 96, ông Trung vẫn giữ được tác phong nhanh nhẹn. Gia nhập đội ngũ Nhi đồng cứu quốc từ năm 13 tuổi, rồi khoác lên mình màu áo Vệ quốc đoàn, cuộc đời binh nghiệp của ông là một hành trình xuyên suốt các chiến khu. Bước ngoặt lớn nhất là năm 1950, ông được điều động về Văn phòng Bộ Quốc phòng, trực tiếp làm việc tại Phòng Bí thư Quân ủy Trung ương dưới sự dẫn dắt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Tại chiến trường Điện Biên Phủ, chàng thanh niên 21 tuổi Nguyễn Khánh Trung khi ấy không cầm súng trực diện nơi tiền tiêu, nhưng trên vai ông là chiếc máy chữ - "vũ khí" sắc bén để truyền tải tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chỉ huy chiến dịch. "Cuộc chiến cam go, các chiến thuật thay đổi từng giờ. Khi Đại tướng đưa ra chỉ thị, tôi phải ngồi đánh máy ngay dưới hầm trú ẩn, có khi đặt máy lên đùi mà gõ để kịp thời gửi công lệnh đi các đơn vị. Tiếng máy chữ lạch cạch hòa cùng tiếng pháo cầm canh của địch, tạo nên một nhịp điệu chiến đấu rất riêng", ông Trung bồi hồi nhớ lại.
Trong câu chuyện với chúng tôi, ông Trung ít nói về những gian khổ mà thường nhắc về nghĩa tình đồng đội. Một kỷ niệm khiến ông rơm rớm nước mắt là một đám cưới "có một không hai" ngay dưới hầm hào. Giữa cái chết cận kề, giữa tiếng bom đạn chát chúa, một đám cưới giản đơn được chỉ huy tổ chức cho hai người lính. Không hoa tươi, không bánh kẹo, chỉ có những lời chúc mừng chân thành và một chiếc lán nhỏ dựng tạm nơi bìa rừng. Đó chính là biểu tượng rực rỡ nhất của chủ nghĩa lạc quan cách mạng.
Về vị Tổng Tư lệnh kính yêu, ông Trung dành một sự tôn kính tuyệt đối. Với ông, Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ là một thiên tài quân sự mà còn là một người cha, người anh nhân hậu. Cái ôm nồng ấm của Đại tướng trong một lần gặp lại sau này vẫn là báu vật tinh thần vô giá mà ông mang theo suốt cuộc đời.

Ông Nguyễn Khánh Trung, "thư ký đánh máy" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Sáng kiến "xe quệt" và khối bộc phá nghìn cân đồi A1
Tại ngôi nhà nhỏ ở Tổ dân phố 10, phường Nùng Trí Cao, cựu chiến binh Lưu Sĩ Niếp, năm nay 96 tuổi, 60 năm tuổi Đảng, người lính hậu cần với những sáng kiến đậm chất dân gian đã kể cho chúng tôi nghe về con đường vận tải huyền thoại.
Khi chiến dịch nổ ra, tuyến đường Tuần Giáo, Điện Biên Phủ là nỗi ám ảnh đối với công tác vận tải: đường hẹp, cầu yếu, đèo cao vực thẳm và địch đánh phá điên cuồng khiến xe cơ giới "bất động". Hình ảnh con trâu kéo cày trên những thửa ruộng bậc thang tại quê nhà Cao Bằng đã gợi mở cho ông ý tưởng táo bạo: "Tại sao không đưa sức kéo của trâu, bò vào chiến trường? Trâu chở được đồ nặng trên đường lầy quê mình thì chắc chắn sẽ giúp được bộ đội vượt núi".
Ông chủ động đề xuất sử dụng xe quệt (phương tiện thô sơ bằng gỗ không bánh) kết hợp với sức trâu kéo để chở vũ khí. Sáng kiến này đã giúp những chuyến hàng bí mật xuyên rừng thành công, hòa cùng dòng người xe thồ rầm rập tiến về lòng chảo. "Đêm đi, ngày nghỉ, bữa ăn chỉ là cơm nắm, mấy củ sắn luộc hay nắm rau rừng, lại thêm những cơn sốt rét rừng hành hạ. Nhưng tinh thần anh em lúc đó phấn chấn lắm, cứ vừa đi vừa hát hò, khiến đường xa thêm gần và hàng trên xe cũng bớt nặng đi vài phần", ông Niếp bồi hồi nhớ lại.
Đặc biệt, đầu tháng 5/1954, ông Niếp được giao trọng trách cùng lực lượng dân công vận chuyển khối bộc phá khổng lồ nặng gần 1.000 kg vào đồi A1. Để đảm bảo tuyệt mật, khối thuốc nổ nghìn cân được chia nhỏ, mỗi người chiến sĩ ôm một khối 2 kg, lầm lũi bò theo những đường hào ngập bùn để bàn giao tận tay cho Đại đoàn 312. Sự bền bỉ của những người lính hậu cần như ông Niếp đã được đền đáp. Đêm mùng 6/5/1954, một tiếng nổ xé toạc bầu trời, rung chuyển cả vùng rừng núi. Cứ điểm phòng ngự kiên cố nhất của địch tại đồi A1 đã bị đánh sập hoàn toàn. Chiến thắng ở đồi A1 chính là đòn "điểm huyệt" chí mạng, xé toang cánh cửa thép để quân ta tiến thẳng vào trung tâm Mường Thanh, viết nên cái kết rực rỡ cho khúc khải hoàn Điện Biên.

Ông Lưu Sĩ Niếp tự hào kể về những tấm huân, huy chương cao quý mà ông được Đảng, Nhà nước trao tặng.
Sau 55 ngày đêm chiến đấu liên tục, đến ngày 7/5/1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Thời gian phục vụ của hậu cần không chỉ là 55 ngày đêm, mà đã kéo dài tới 6 tháng liền và phải bảo đảm cho hơn 87.000 người tham gia Chiến dịch, trong đó lực lượng chiến đấu là 53.830 người và dân công là 333.000 người với 12 triệu ngày công phục vụ Chiến dịch. Trong Chiến dịch này, ngành Hậu cần đã dốc toàn lực bảo đảm hơn 20.000 tấn vật chất, gồm: 1.200 tấn đạn, 1.783 tấn xăng dầu, 14.950 tấn gạo, 268 tấn muối, 577 tấn thịt, 1.034 tấn thực phẩm và 177 tấn vật chất khác, gấp gần 3 lần so với dự kiến ban đầu. Công tác hậu cần đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm cho bộ đội chiến đấu liên tục, dài ngày trên địa bàn xa hậu phương, góp phần quyết định vào thắng lợi vĩ đại của Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Những huân chương, huy chương mà ông Niếp được Đảng, Nhà nước trao tặng được ông cẩn thận gìn giữ.
72 năm nhìn lại, những chàng trai tuổi đôi mươi ấy nay đã thành hàng cổ thụ tóc bạc da mồi. Họ không nói về mình như những anh hùng, mà kể về Điện Biên như kể về một phần đời đẹp nhất, dù gian khổ nhưng đầy tự trọng. Những tấm Huân chương hay chiếc áo trấn thủ sờn vai được các cụ trân trọng giữ gìn không phải để khoe khoang chiến tích, mà để nhắc nhớ về một thời "gan không núng, chí không mòn".
Chia tay những người con ưu tú của quê hương cách mạng, chúng tôi nhận ra rằng, lịch sử không chỉ nằm trong những trang sách trang trọng, mà vẫn đang sống, đang thở trong những câu chuyện mộc mạc của các cụ. Những "mạch ngầm" ấy chẳng cần phải hội tụ ở đâu xa, bởi chúng đã thấm sâu vào lòng đất, trở thành một phần máu thịt của đất nước, để mỗi độ tháng Năm về, ký ức Điện Biên lại bừng sáng trong mỗi nếp nhà, mỗi nụ cười của những chứng nhân lịch sử trên dải đất Cao Bằng.
Hạnh Nguyên
3 giờ trước
44 phút trước
15 phút trước
4 phút trước
12 phút trước
13 phút trước
16 phút trước
18 phút trước
24 phút trước
27 phút trước
31 phút trước
32 phút trước
44 phút trước