Nhìn lại - Suy ngẫm và Kỳ vọng!
Năm 2025 vừa mới đi qua và nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc 2021-2025 về cơ bản đã kết thúc; một kỷ nguyên phát triển mới của đất nước đang giai đoạn khởi đầu. Đây là thời khắc để chúng ta tĩnh tâm nhìn lại những thành tựu, những mặt chưa được, những công việc còn dở dang, những nguyên nhân và bài học; đồng thời, kiến giải và kỳ vọng cho năm 2026 và cả nhiệm kỳ tiếp theo. VOV1 xin trân trọng giới thiệu bài viết nhan đề “Nhìn lại - Suy ngẫm và Kỳ vọng” của chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Đình Cung - Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương.
Những thành tựu được ghi nhận
Thành tựu đầu tiên ghi dấu ấn nhiệm kỳ Đại hội Đảng lần thứ XIII là tăng trưởng kinh tế. Sau đại dịch, kinh tế đã phục hồi nhanh chóng và vững mạnh; GDP có xu hướng tăng liên tục và đạt 8,02% năm 2025; đưa mức bình quân tăng trưởng cả nhiệm kỳ 2021-2025 đạt 6,13, bước đầu chặn lại xu hướng tăng trưởng liên tục giảm dần của 25 năm trước đó. Các ngành, lĩnh vực đều tăng trưởng khá đồng đều. Lạm phát được kiểm soát thấp hơn mục tiêu đã định; kinh tế vĩ mô tiếp tục giữ ổn định; các cân đối lớn của nền kinh tế vẫn được bảo đảm.

TS Nguyễn Đình Cung - Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương
Về kinh tế đối ngoại, các thành tựu đạt được thực sự nổi trội. Kim ngạch xuất nhập khẩu có xu hướng tăng liên tục trong suốt nhiệm kỳ; và năm 2025 đạt mốc cao kỷ lục, khoảng 930 tỷ USD, đưa Việt Nam vào top15 nền kinh tê có quy mô thương mại quốc tế cao nhất thế giới. Thặng dư thương mại đạt 20 tỷ USD. Thu hút FDI vẫn tiếp tục là điểm sáng. Tổng FDI thực hiện năm 2025 là hơn 27,6 tỷ USD; cả nhiệm kỳ là 118,3 tỷ USD. Khách du lịch quốc tế đến năm 2025 đã đạt mức kỷ lục,hơn 21 triệu lượt khách. Các thành tựu càng nổi bật thêm bội phần khi đặt trong bối cảnh quốc tế không thuận; Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn với quy mô lớn, cường độ cao chưa từng có, và đang tiếp tục gia tăng; các quốc gia điều chỉnh lại chiến lược thiên về hướng nội; quá trình toàn cầu hóa và thương mại quốc tế dựa trên luật lệ đang ở ngã rẽ gập ghềnh, quanh co, phức tạp hơn nhiều so với trước đây.
Thành công nổi bật tiếp theo của nhiệm kỳ 2021-2025 là đầu tư công. Đầu tư công tăng cao chưa từng có cả về quy mô và tốc độ; được tập trung vào các công trình hạ tầng trọng điểm quốc gia. Nhờ đó, đột phá về hạ tầng đạt kết quả nổi bật. Đã hoàn thành mục tiêu 3000km đường bộ cao tốc; nối liền thông suốt từ Lạng Sơn đến mũi Cà mau; sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và Nội Bài được nâng cấp, mở rộng; sân bay quốc tế Long thành được hoàn thành, bắt đầu đưa vào vận hành,.v.v…Hạ tầng viễn thông và internet đã tiệm cận thông lệ quốc tế tốt.
Đột phá về thể chế cũng để lại dấu ấn nhiệm kỳ, đặc biệt là năm 2025
Tổng bí thư Tô Lâm đã đặt nền móng cho đổi mới tư duy về cải cách thể chế với những chỉ đạo hết sức mạch lạc, cụ thể, đầy tính khoa học và thực tiễn. Đó là: phải dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”; hệ thống pháp luật phải chuyển từ quản lý là chủ yếu sang kiến tạo phát triển; phải đề cao phương pháp “quản lý theo kết quả” và chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”; đề cao nguyên tắc thị trường trong huy động và phân bổ nguồn lực, đồng thời loại bỏ cơ chế “xin - cho” và tư duy bao cấp; phân cấp triệt để, toàn diện cho chính quyền địa phương theo hướng “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.
Tổng bí thư Tô Lâm cũng đã chỉ rõ “Điểm cốt lõi của hoàn thiện thế chế kinh tế thị trường là phân định mạch lạc vai trò của nhà nước trong nền kinh tế, theo đó Nhà nước tập trung vào điều tiết vĩ mô, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bảo đảm cơ chế thị trường vận hành hiệu quả, bảo đảm công bằng xã hội”,.v.v.v.. Tư duy mới này đã thể hiện đầy đủ, nhất quán trong “bộ tứ chiến lược”; tạo thành trụ cột của hệ thống thể chế để đất nước vươn mình vào kỷ nguyên mới.
Trên thực tế, cuộc cải cách tinh gọn bộ máy theo hướng “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả” đã được thực hiện thần tốc, quyết liệt và toàn diện; đã và đang mở ra cơ hội, không gian phát triển mới cho cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng. Hàng loạt các nghị quyết đặc thù với thể chế vượt trội được ban hành tạo không gian, cơ hội và điều kiện thuận lợi để các thành phố trực thuộc trung ương bứt phá phát triển, trở thành các cực tăng trưởng mạnh của nền kinh tế.
Có thể thấy, nhiệm kỳ 2021-2025, đặc biệt là năm 2025 đã đạt được một số thành tựu chưa từng có, rất đáng ghi nhận. Tuy vậy, kết quả đạt được chưa bao trùm, chưa thật bền vững; vẫn chứa đựng trong đó không ít rủi ro đối với kinh tế vĩ mô, đối với phát triển cân đối, đối với bình đẳng, an toàn và an sinh xã hội,.v.v…
Để có được niềm vui trọn vẹn, đất nước thực sự vươn mình, người dân là trung tâm, vừa là lực lượng tạo nên thay đổi, vừa là người được hưởng lợi chủ yếu từ thành quả của thay đổi. Bước sang năm 2026, năm đầu nhiệm kỳ vươn mình của dân tộc, với những quyết sách quan trọng của Đảng, của Người đứng đầu Đảng và Chính phủ đã, đang và sẽ thực hiện, chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng những khiếm khuyết sẽ được khắc phục; các thành tựu đạt được không chỉ cao, mà còn bền vững, tạo niềm tin và mang lại thịnh vượng cho mọi người dân.
Đại hội Đảng lần thứ XIV xác lập mô hình tăng trưởng mới
Đại hội Đảng lần thứ XIV xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu là nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Điều đó có nghĩa là, Đại hội không chỉ đặt mục tiêu cao, mà còn xác định cả cách thức tăng trưởng để đạt mục tiêu. Đó là, tăng trưởng dựa trên nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực tăng trưởng chính.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, Văn kiện trình Đại hội 14 của Đảng đã “Khẳng định vai trò quyết định của thị trường trong huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển”. Đây là chủ trương hoàn toàn đúng, bởi vì, không có gì tốt hơn thị trường trong huy động và nâng cao hiệu quả phân bố trong sử dụng các nguồn lực. Khi chủ trương này được thực hiện nhất quán, thì cơ chế “xin-cho” và những sai lệch, méo mó thị trường trong phân bố nguồn lực xã hội sẽ được loại bỏ; thị trường tài chính sẽ được phát triển đa dạng hơn; các ngân hàng thương mại không chỉ cho vay dựa vào tài sản thế chấp là bất động sản, mà còn phải chuyển sang cho vay theo dòng tiền, theo chuỗi cung ứng.v.v.. vốn tín dụng ngân hàng không chỉ tập trung vào một số khách hàng quy mô lớn, mà một phần đáng kể phải được dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Chính sách phân bố và sử dụng đất sẽ phải chuyển hướng từ nhấn mạnh đến tăng thu tài chính, thu địa tô tối đa sang tạo giá trị xã hội. Cơ chế phân bố và giá đất phải được định theo nguyên tắc này, đồng thời, phải đủ linh hoạt và hợp lý để các doanh nghiệp nhỏ và vừa khu vực tư nhân trong nước có thể tiếp cận được một cách công bằng, minh bạch; đầu cơ trên thị trường bất động sản phải được kiểm soát và đẩy lùi.v.v..
Chính sách tài khóa và tiền tệ phải gắn bó với nhau, bổ sung cho nhau một cách linh hoạt để vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, vừa hỗ trợ tăng trưởng. Chính sách tiền tệ cần ưu tiên ổn định giá trị đồng nội tệ; chính sách tài khóa hỗ trợ tăng trưởng cần chuyển trọng tâm từ tăng thu để mở rộng chi sang khoan sức dân, hỗ trợ và nuỗi dưỡng nguồn thu trung và dài hạn.
Ổn định kinh tế vĩ mô (điều kiện cần) phải đi cùng với những cải cách đột phá về môi trường kinh doanh, thì mới đủ để người dân và doanh nghiệp an tâm dốc sức, vững tin dốc lực, hết mình đổi mới sáng tạo cho công việc làm ăn lâu dài. Mọi cải cách, nhất là cải cách có tính đột phá không thể dừng lại ở các tuyên bố chính trị trong nghị quyết, trong báo cáo tại các hội nghị, mà phải được thấm nhuần và thực hiện đầy đủ, nhất quán, có tác dụng thực tế mang lại quyền và lợi ích thiết thực cho người dân và doanh nghiệp. Nói phải đi đối với làm, hoặc nói ít, làm nhiều, thì dân mới tin, theo và ủng hộ; từ đó, năng lượng tích cực từ cải cách, từ phản ứng của người dân và doanh nghiệp mới quyện vào nhau thành vòng xoáy mở rộng, thúc đẩy phát triển lành mạnh, năng động của xã hội, của nền kinh tế. Còn ngược lại, sẽ cổ xúy cho “bệnh thành tích”, quan liêu, có thể làm sai lệch, méo mó các giá trị xã hội; sẽ xa dân và mất niềm tin của nhân dân.
Chuyển đổi tư duy và năng lực thực thi của cả hệ thống. Tiếng nói của người dân và doanh nghiệp, phản biện xây dựng và có trách nhiệm từ xã hội cần được lắng nghe, tiếp nhận và tiếp thu nhiều hơn trong soạn thảo, thực thi và đánh giá hiệu lực, hiệu quả các nghị quyết, các văn bản pháp luật và chính sách.
Toàn bộ hệ thống chính trị và từng người dân nỗ lực, phấn đấu để có được một nền kinh tế cường thịnh; đó là nền kinh tế không thể chỉ dựa vào khu vực nhà nước hay đầu tư nước ngoài, mà phải dựa vào nội lực là khu vực tư nhân vững mạnh, đóng vai trò tiên phong trong đổi mới và phát triển đất nước; và “Nền kinh tế quốc gia chỉ thực sự cường thịnh khi toàn dân tham gia lao động tạo ra của cải vật chất, một xã hội mà người người, nhà nhà, ai cũng hăng say lao động”.
TS Nguyễn Đình Cung
5 giờ trước
9 giờ trước
11 giờ trước
15 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
2 ngày trước
3 giờ trước
27 phút trước
1 giờ trước
5 phút trước
17 phút trước
22 phút trước
28 phút trước
46 phút trước
46 phút trước