Nhật Bản và hành trình nông nghiệp xanh - Bài 1: Chiến lược MIDORI

Yamagata là một vựa gạo của Nhật Bản với hình ảnh quen thuộc là những cánh đồng lúa mênh mông. Ảnh: Nguyễn Tuyến – Pv TTXVN tại Nhật Bản
Đại dịch COVID-19 và các cuộc xung đột đã cho thấy rõ tính bất ổn của chuỗi cung ứng lương thực. Tỷ lệ tự chủ lương thực của Nhật Bản tính theo lượng calo hiện chỉ đạt khoảng 38% trong năm tài khóa 2025, cho thấy nước này vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu.
Đồng thời, tình trạng lực lượng lao động nông nghiệp ngày càng già hóa, thiếu người kế nghiệp và tác động của biến đổi khí hậu đang gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, bảo đảm tính bền vững của nguồn cung lương thực trong nước đã trở thành một vấn đề cấp bách đối với Nhật Bản. Chùm ba bài “Nhật Bản và hành trình nông nghiệp xanh” của phóng viên TTXVN tại Tokyo giới thiệu những chiến lược và nỗ lực của Nhật Bản để ứng phó với vấn đề này.
Bài 1: Chiến lược MIDORI
Trước những thách thức từ biến đổi khí hậu, lực lượng lao động già hóa, thiếu nhân lực và sự phụ thuộc vào vật tư nhập khẩu, Nhật Bản đang thúc đẩy chuyển đổi toàn diện ngành nông nghiệp theo hướng xanh, thông minh và phát thải thấp. Nền tảng của quá trình này là “Chiến lược MIDORI về hệ thống lương thực bền vững”, được Bộ Nông, Lâm và Ngư nghiệp Nhật Bản ban hành vào tháng 5/2021.
MIDORI hướng tới nâng cao năng suất của ngành nông, lâm, ngư nghiệp và công nghiệp thực phẩm, đồng thời giảm tác động tiêu cực đến môi trường. Điểm nổi bật của chiến lược là Nhật Bản không lựa chọn cách đơn thuần cắt giảm phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hoặc thu hẹp quy mô sản xuất, mà coi đổi mới công nghệ là động lực để giải quyết hài hòa bài toán năng suất, môi trường và an ninh lương thực.
*Đưa công nghệ đến nông dân

Ông Masaru Hanada, quan chức phụ trách các vấn đề địa phương, trụ sở tỉnh Yamagata thuộc Văn phòng Quản lý Nông nghiệp vùng Tohoku, trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN. Ảnh: Nguyễn Tuyến – Pv TTXVN tại Nhật Bản
Ông Masaru Hanada, phụ trách các vấn đề địa phương thuộc Văn phòng Quản lý Nông nghiệp vùng Tohoku, cho biết Nhật Bản đang thúc đẩy ứng dụng AI, robot, thiết bị bay không người lái, cảm biến và dữ liệu vào nhiều công đoạn sản xuất. Các công nghệ tiêu biểu gồm máy kéo, máy cấy và máy thu hoạch tự hành; thiết bị bay không người lái phục vụ phun thuốc, rải phân bón; AI chẩn đoán sâu bệnh; hệ thống quản lý đồng ruộng bằng hình ảnh vệ tinh và cảm biến; cùng các thiết bị tự động kiểm soát môi trường canh tác.
AI có thể phân tích hình ảnh lá và các bộ phận của cây để phát hiện sâu bệnh, nhận biết dấu hiệu thiếu dinh dưỡng và lựa chọn thời điểm phòng trừ thích hợp. Dữ liệu về nhiệt độ, độ ẩm đất, lượng mưa và bức xạ mặt trời được sử dụng để tối ưu hóa việc tưới nước và bón phân. Công nghệ này còn hỗ trợ dự báo sản lượng, phân loại nông sản theo kích thước, màu sắc, vết trầy xước và độ đường, cũng như lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ.
Những ứng dụng trên giúp giảm khối lượng lao động trong bối cảnh nông dân Nhật Bản ngày càng già hóa, đồng thời sử dụng vật tư đúng nơi, đúng thời điểm và đúng liều lượng. Qua đó, ngành nông nghiệp có thể giảm chi phí, lượng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón mà vẫn duy trì năng suất.
Chi phí đầu tư cao là một trong những trở ngại lớn đối với các hộ sản xuất nhỏ. Để giải quyết vấn đề này, Chính phủ Nhật Bản triển khai các chương trình hỗ trợ đồng bộ từ mua sắm máy móc, điều chỉnh quy trình canh tác đến đào tạo sử dụng công nghệ.
Luật Thúc đẩy ứng dụng công nghệ nông nghiệp thông minh, có hiệu lực từ tháng 10/2024, cho phép những nông dân và doanh nghiệp đủ điều kiện được tiếp cận các khoản vay dài hạn với lãi suất thấp, hưởng ưu đãi thuế và thực hiện một số thủ tục hành chính theo cơ chế đơn giản hóa. Chẳng hạn, thủ tục xin phép bay đối với thiết bị bay không người lái có thể được xử lý thuận lợi hơn.
Một sáng kiến đáng chú ý khác là phát triển dịch vụ cho thuê thiết bị và nhận khoán công việc. Thay vì trực tiếp mua máy móc có giá trị lớn, nông dân có thể thuê máy nông nghiệp tự hành, sử dụng dịch vụ phun thuốc bằng thiết bị bay không người lái, phân tích dữ liệu hoặc thu hoạch thuê. Chính quyền địa phương cũng triển khai các chương trình hỗ trợ lắp đặt hệ thống dẫn đường GNSS, xây dựng nhà kính ứng dụng công nghệ số và thuê mua máy móc thông minh.
*Thích ứng với biến đổi khí hậu
Nhật Bản đang phát triển các giống lúa chịu nhiệt, giống kháng sâu bệnh và giống cho năng suất cao nhằm hạn chế sự suy giảm chất lượng nông sản do hiện tượng nóng lên toàn cầu. Trong lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ, các biện pháp như sử dụng chế phẩm vi sinh, thiên địch, phân hữu cơ ủ hoai (compost)… được thúc đẩy để giảm thuốc bảo vệ thực vật tổng hợp hóa học và phân bón hóa học.
Đối với mục tiêu khử carbon, Nhật Bản triển khai nhiều giải pháp như sử dụng sinh khối; ứng dụng năng lượng tái tạo, trong đó có điện Mặt Trời, vào sản xuất rau, hoa và cây trồng làm vườn trong nhà kính, nhà màng; điện khí hóa máy móc nông nghiệp; lưu trữ carbon trong đất và giảm phát thải khí methane từ ruộng lúa.
Nổi bật trong số đó là biện pháp kéo dài thời gian tháo cạn nước giữa vụ, được phát triển từ phương pháp quản lý nước truyền thống nakaboshi của Nhật Bản. Trên cơ sở này, Nhật Bản đang thúc đẩy kỹ thuật tưới ngập - khô xen kẽ, gọi tắt là AWD, tại các nước ASEAN.
AWD trước đây chủ yếu được biết đến như một kỹ thuật tiết kiệm nước. Tuy nhiên, việc tháo nước khỏi ruộng trong những khoảng thời gian nhất định còn giúp hạn chế môi trường yếm khí, từ đó làm giảm quá trình hình thành khí methane. Hiệu quả này không phụ thuộc chủ yếu vào giống lúa mà liên quan trực tiếp đến phương pháp quản lý nước trong canh tác.

Ông Hiroshi Ogata, Vụ trưởng Vụ Sản xuất thuộc Văn phòng Quản lý Nông nghiệp vùng Tohoku, trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN. Ảnh: Nguyễn Tuyến – Pv TTXVN tại Nhật Bản
Theo ông Hiroshi Ogata, Vụ trưởng Vụ Sản xuất thuộc Văn phòng Quản lý Nông nghiệp vùng Tohoku, một trong những nguyên nhân khiến AWD chưa được phổ biến rộng rãi tại ASEAN là người nông dân chưa có đủ động lực kinh tế. Để khắc phục vấn đề này, Nhật Bản đang kết hợp AWD với Cơ chế Tín chỉ chung (JCM), qua đó chuyển lượng phát thải được cắt giảm thành tín chỉ carbon và nguồn thu bổ sung.
Bộ Nông, Lâm và Ngư nghiệp Nhật Bản đang phối hợp với Ngân hàng Phát triển châu Á, Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế, các tổ chức nghiên cứu Nhật Bản và cơ quan liên quan để xây dựng phương pháp luận AWD-JCM. Tháng 2/2025, phương pháp luận giảm phát thải methane từ ruộng lúa thông qua AWD đã được Ủy ban hỗn hợp JCM Nhật Bản - Philippines phê duyệt. Đây được xem là một trong những trường hợp tiên phong trong lĩnh vực nông nghiệp.
Nhật Bản cũng chú trọng xây dựng hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm tra (MRV), kết hợp dữ liệu vệ tinh, thiết bị quan trắc mực nước, hệ thống giám sát kỹ thuật số và hoạt động kiểm chứng của các cơ quan nghiên cứu. Các dự án thí điểm được triển khai theo mô hình hợp tác công - tư, bao gồm toàn bộ quy trình từ phổ biến kỹ thuật AWD, đo lường phát thải đến tạo lập và giao dịch tín chỉ carbon.
Chiến lược MIDORI cho thấy định hướng chuyển đổi xanh của Nhật Bản không tách rời mục tiêu nâng cao năng lực sản xuất. Thông qua việc kết hợp công nghệ, chính sách tài chính, nghiên cứu khoa học và lợi ích kinh tế của nông dân, Nhật Bản đang từng bước xây dựng một nền nông nghiệp có năng suất cao hơn, sử dụng ít tài nguyên hơn và giảm phát thải trong toàn bộ hệ thống lương thực./.
>>>Nhật Bản và hành trình nông nghiệp xanh - Bài 2: Đưa công nghệ xuống đồng
Nguyễn Tuyến/vnanet.vn
18 phút trước
32 phút trước
37 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
21 phút trước
23 phút trước
23 phút trước
35 phút trước
45 phút trước