Nhập tài sản riêng, chia tài sản chung: Các cặp vợ chồng cần lưu ý gì?

Luật sư Nguyễn Đức (thứ 2, từ trái qua), Đoàn Luật sư thành phố Đồng Nai trao đổi với người dân xã Xuân Quế về tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng.Ảnh: Ðoàn Phú
Tuy nhiên, việc hợp nhất tài sản riêng của từng người vào khối tài sản chung hoặc tặng, cho tài sản thuộc sở hữu riêng của mình cho người kia cần tuân thủ đúng quy định của pháp luật để tránh phát sinh tranh chấp, rủi ro pháp lý.
Ðịnh đoạt tài sản chung, riêng
Tài sản chung của vợ chồng gồm: tài sản do vợ chồng tạo ra; thu nhập từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và các khoản thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ, chồng được thừa kế chung, tặng cho chung và tài sản khác mà vợ, chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân...
Theo quy định của pháp luật dân sự và hôn nhân gia đình, vợ, chồng có quyền ngang nhau trong việc sử dụng, định đoạt tài sản chung. Vợ, chồng cũng có quyền sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Trường hợp hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản đó phải có sự đồng ý của người còn lại.
Pháp luật cho phép vợ, chồng sở hữu tài sản chung hoặc riêng từ nhiều nguồn hợp pháp như: được tặng cho, thừa kế, chuyển nhượng hoặc trao đổi tài sản. Tuy nhiên, trên thực tế không phải cặp vợ chồng nào cũng nắm rõ quy định pháp luật về chế độ tài sản chung, tài sản riêng để thực hiện quyền định đoạt phù hợp, tránh phát sinh phiền phức hoặc nghi ngờ lẫn nhau.
Bà Lê Thị Lựu (ở xã Nha Bích) băn khoăn: Việc nhập tài sản riêng của từng người vào khối tài sản chung của vợ chồng và việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thành tài sản riêng của từng người được pháp luật quy định ra sao?
Trong khi đó, ông Vương Ngọc Tính (ở xã Xuân Quế) hỏi: Khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã thỏa thuận chia tài sản chung, sau đó quan hệ vợ chồng trở lại bình thường thì việc chuyển tài sản riêng sau khi phân chia thành tài sản chung được thực hiện như thế nào?
Luật sư Nguyễn Đức, Đoàn Luật sư thành phố Đồng Nai cho biết: “Pháp luật luôn tôn trọng quyền định đoạt tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng như khi quan hệ hôn nhân chấm dứt, miễn việc định đoạt đó không vi phạm pháp luật hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ 3”.
Cụ thể, Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu nếu ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích gia đình; quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động, không có tài sản tự nuôi mình...
Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải được lập thành văn bản; văn bản được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
Phân chia tài sản
Theo luật sư Nguyễn Đức, ngoài việc tránh các trường hợp làm cho thỏa thuận vô hiệu, trong quá trình định đoạt tài sản chung, tài sản riêng, nếu vợ chồng đạt được sự thống nhất thì thực hiện theo nội dung đã thỏa thuận.
Khoản 1 và khoản 2, Điều 39 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung là thời điểm do vợ, chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản. Nếu văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì được tính từ ngày lập văn bản.
Trường hợp tài sản được chia thuộc loại giao dịch phải tuân thủ hình thức nhất định theo quy định của pháp luật thì việc chia tài sản chung chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về hình thức.
Nếu vợ, chồng không thể tự thỏa thuận thì có quyền yêu cầu tòa án giải quyết. Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được xem xét tương tự trường hợp giải quyết khi ly hôn.
Theo đó, tài sản chung được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố như: hoàn cảnh gia đình, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung; bảo đảm lợi ích chính đáng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên tiếp tục tạo thu nhập. Tài sản riêng của ai thuộc quyền sở hữu của người đó.
Khoản 3, Điều 39 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định, trong trường hợp tòa án chia tài sản chung của vợ, chồng thì việc chia tài sản có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật.
Sau khi định đoạt tài sản chung hoặc tài sản riêng theo thỏa thuận, vợ, chồng vẫn có quyền lập thỏa thuận mới để chấm dứt hiệu lực của thỏa thuận chia tài sản trước đó hoặc nhập tài sản riêng trở lại thành tài sản chung. Nếu việc chia tài sản được thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án thì vợ, chồng vẫn có quyền lập thỏa thuận mới và yêu cầu tòa án công nhận.
Từ những quy định nêu trên, luật sư Nguyễn Đức lưu ý, khi nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung hoặc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, các cặp vợ chồng cần bảo đảm đúng quy định của pháp luật, không vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ 3, thực hiện đầy đủ thủ tục về văn bản, công chứng, chứng thực hoặc yêu cầu tòa án công nhận khi cần thiết.
Ðiều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản trong các trường hợp: bất động sản; động sản phải đăng ký quyền sở hữu; tài sản là nguồn tạo thu nhập chủ yếu của gia đình.
Ðoàn Phú
2 giờ trước
27 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
Vừa xong
3 phút trước
15 phút trước
31 phút trước
41 phút trước
47 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước