🔍
Chuyên mục: Giáo dục

Nhận diện các 'hiện tượng tôn giáo mới' trên địa bàn tỉnh

1 giờ trước
Cùng với sự phát triển nhanh của kinh tế - xã hội và tác động của môi trường số, đời sống tôn giáo tại nhiều địa phương xuất hiện những biểu hiện mới phức tạp hơn. Bên cạnh các tôn giáo truyền thống được Nhà nước công nhận, các 'hiện tượng tôn giáo mới', 'đạo lạ', 'tà đạo' bước đầu hình thành, hoạt động phân tán, linh hoạt. Thực tiễn tại Bắc Ninh cho thấy, đây là vấn đề cần được nhận diện đúng bản chất, đánh giá trúng xu hướng để có giải pháp quản lý Nhà nước phù hợp.

Trước hết, cần làm rõ khái niệm “hiện tượng tôn giáo mới”. Đây không phải là một tôn giáo hoàn chỉnh với hệ thống giáo lý, tổ chức và lịch sử hình thành ổn định, mà chủ yếu là các nhóm sinh hoạt mang tính tự phát, pha trộn giữa tín ngưỡng dân gian, yếu tố tôn giáo truyền thống và niềm tin cá nhân. Nhiều nhóm không có tư cách pháp lý, không có cơ cấu tổ chức rõ ràng, hoạt động dựa vào uy tín của người đứng đầu và sự lan truyền trong cộng đồng.

Ở góc độ khoa học, đây là biểu hiện của xu hướng “cá thể hóa tôn giáo”, khi niềm tin không còn gắn chặt với thiết chế truyền thống mà chuyển sang những hình thức linh hoạt, đáp ứng nhu cầu cá nhân. Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể, một số hiện tượng bị biến dạng, mang yếu tố mê tín, phản khoa học, thậm chí bị lợi dụng để trục lợi hoặc gây nhiễu thông tin nên trong thực tiễn thường được gọi là “đạo lạ”, “tà đạo”.

Hoạt động của tà đạo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự. Ảnh minh họa.

Tại Bắc Ninh, một địa phương có tốc độ đô thị hóa nhanh, dân cư đông, giao lưu xã hội mạnh, các hiện tượng này bước đầu xuất hiện với quy mô chưa lớn, song có những biểu hiện đáng lưu ý về phương thức hoạt động. Trên địa bàn có một số điểm sinh hoạt tôn giáo chưa đủ điều kiện pháp lý như Tin Lành và một số loại hình sinh hoạt mang tính “đạo lạ”, “tà đạo” như: Pháp luân công, Đức Chúa Trời mẹ, Pháp môn Diệu âm… người tham gia phân tán, rải rác tại nhiều xã, phường. Một số hình thức sinh hoạt diễn ra tại hộ gia đình, một số tập trung tại không gian công cộng theo nhóm nhỏ.

Các nhóm này không phát triển theo mô hình tập trung mà phân tán, linh hoạt, thay đổi địa điểm, kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến. Xét về bản chất, nhiều hiện tượng tôn giáo mới được hình thành trên cơ sở diễn giải cá nhân. Không ít trường hợp cải biên giáo lý Phật giáo, đạo Mẫu hoặc gắn với yếu tố dân tộc, lịch sử để tạo sức thuyết phục. Một số nhóm đưa ra các nội dung mang tính huyền bí, khó kiểm chứng. Điều này làm cho người tham gia dễ nhầm lẫn giữa sinh hoạt tôn giáo lành mạnh với các biểu hiện lệch chuẩn.

Đối tượng mà các nhóm này hướng đến thường là những người dễ bị tác động về tâm lý. Phương thức lôi kéo cũng có nhiều biến đổi, thay vì truyền đạo trực diện, các nhóm thường tiếp cận bằng những nội dung gần gũi như: Chăm sóc sức khỏe, giải tỏa căng thẳng, cải thiện đời sống. Những khái niệm như “luyện khí công”, “năng lượng”, “giải nghiệp”, “tu tại gia” được sử dụng để tạo niềm tin ban đầu. Người tham gia thường bắt đầu với tâm lý thử nghiệm, nhưng dần hình thành niềm tin và sự lệ thuộc.

Ở góc độ xã hội, sự xuất hiện của các hiện tượng này cho thấy nhu cầu được chia sẻ, được nâng đỡ tinh thần của một bộ phận người dân là có thật. Tuy nhiên, nếu nhu cầu ấy bị dẫn dắt bởi những cách giải thích mê tín, phản khoa học hoặc bị lợi dụng để trục lợi, hệ lụy xã hội sẽ lớn hơn nhiều so với những giá trị tinh thần nhất thời mà người tham gia cảm nhận được.

Từ thực tiễn đó, công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo cần được điều chỉnh theo hướng phù hợp hơn với bối cảnh mới. Trước hết, cần chuyển từ cách làm “xử lý khi phát sinh” sang “nhận diện sớm, phân loại đúng”. Không thể đánh đồng tất cả các nhóm sinh hoạt chưa đủ điều kiện pháp lý với “tà đạo” mà phải phân biệt rõ nhóm có nhu cầu sinh hoạt tôn giáo chính đáng với nhóm có biểu hiện lệch chuẩn, trục lợi hoặc gây phức tạp xã hội.

Đối với các điểm sinh hoạt tôn giáo chưa đủ điều kiện nhưng không có dấu hiệu tiêu cực, cần hướng dẫn hoàn thiện thủ tục, đưa vào khuôn khổ quản lý. Đối với các nhóm có biểu hiện lôi kéo, trục lợi, cần vận động, răn đe và xử lý theo quy định. Với các trường hợp có dấu hiệu gây phức tạp về an ninh, trật tự, phải kiên quyết đấu tranh, không để hình thành điểm nóng trên địa bàn dân cư.

Cùng với đó, cần coi không gian mạng là địa bàn quản lý mới. Việc theo dõi, nắm bắt thông tin phải được thực hiện chủ động, kịp thời phát hiện các nội dung lệch chuẩn. Quan trọng hơn, phải tăng cường cung cấp thông tin chính thống, giúp người dân có cơ sở đối chiếu, không bị dẫn dắt bởi thông tin sai lệch.

Ở cấp cơ sở, vai trò của chính quyền xã, phường có ý nghĩa quyết định. Đây là nơi phát hiện sớm nhất những biến động trong cộng đồng. Cán bộ cơ sở cần nắm chắc tình hình, hiểu rõ đối tượng, phương thức hoạt động của các nhóm để có biện pháp vận động phù hợp. Việc bồi dưỡng kiến thức pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và kỹ năng dân vận cho cán bộ cơ sở cần được quan tâm.

Về lâu dài cần gắn công tác quản lý tôn giáo với an sinh xã hội. Nhiều người tìm đến các “đạo lạ” do nhu cầu được hỗ trợ, được chia sẻ, được giải tỏa tâm lý. Khi đời sống vật chất và tinh thần được bảo đảm, các “khoảng trống niềm tin” sẽ dần thu hẹp.

Công tác tuyên truyền cũng cần đổi mới mạnh mẽ. Không chỉ dừng ở việc cảnh báo chung chung mà cần cung cấp cho người dân những dấu hiệu cụ thể để nhận diện như: Yêu cầu đóng tiền bất thường; khuyên bỏ điều trị y tế; tách người tham gia khỏi gia đình; sinh hoạt bí mật, thiếu minh bạch, hướng đến những mục đích trục lợi, lôi kéo về chính trị… Khi người dân có khả năng tự nhận diện, hiệu quả phòng ngừa sẽ cao hơn.

Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của các tổ chức tôn giáo hợp pháp và người có uy tín trong cộng đồng. Đây là lực lượng có khả năng giải thích, định hướng niềm tin một cách thuyết phục, góp phần giúp người dân phân biệt đúng - sai trong sinh hoạt tôn giáo.

Vấn đề đặt ra hiện nay không nằm ở quy mô mà ở xu hướng vận động phân tán, linh hoạt và gắn với môi trường số của các hiện tượng tôn giáo mới. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của Nhân dân phải đi đôi với giữ vững ổn định xã hội; đó cũng là cách củng cố nền tảng tinh thần lành mạnh, tăng cường niềm tin xã hội và tạo điều kiện cho Bắc Ninh phát triển bền vững.

TS. Dương Ngô Ninh
















Home Icon VỀ TRANG CHỦ