Nguồn nước và hạn mặn ĐBSCL - thách thức chưa từng có
Trước những tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu và sự thay đổi dòng chảy từ thượng nguồn sông Mekong, ĐBSCL đang đối mặt với áp lực lớn về tài nguyên nước và xâm nhập mặn. Những số liệu khoa học mới nhất cho thấy xu hướng gia tăng rủi ro trong tương lai gần, đòi hỏi các giải pháp mang tính hệ thống và liên vùng. Phóng viên Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với PGS.TS. Nguyễn Phú Quỳnh – Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam nhằm làm rõ thực trạng và đề xuất giải pháp cho bài toán nguồn nước vùng ĐBSCL hiện nay.

PGS. TS Nguyễn Phú Quỳnh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học thủy lợi miền Nam - Ảnh: C.K
- Thưa ông, từ góc độ nghiên cứu khoa học, ông đánh giá như thế nào về thực trạng nguồn nước vùng ĐBSCL hiện nay?
- PGS.TS. Nguyễn Phú Quỳnh: Thực trạng nguồn nước tại ĐBSCL hiện nay có thể tóm gọn trong hai đặc điểm chính: Phụ thuộc lớn vào nguồn nước ngoại sinh và đang chịu tác động mạnh từ các yếu tố bên ngoài. Theo các nghiên cứu, khoảng 95% lượng nước của ĐBSCL đến từ thượng nguồn Mekong, trong khi nguồn nước nội sinh chỉ chiếm khoảng 5%, chủ yếu từ lượng mưa trong mùa mưa. Điều này cho thấy tính phụ thuộc rất cao của vùng vào dòng chảy xuyên biên giới.
Trong bối cảnh đó, các hoạt động phát triển ở thượng nguồn, đặc biệt là xây dựng hồ chứa và thủy điện, đã làm thay đổi đáng kể chế độ dòng chảy cả mùa lũ và mùa khô. Theo đó, lượng nước mùa lũ suy giảm, mùa khô có xu thế tăng nhưng có tính biến động mạnh và phức tạp bởi tác động từ vận hành các hồ chứa thượng lưu. .Bên cạnh đó, các yếu tố nội tại cũng đang làm suy giảm khả năng trữ và điều tiết nước của đồng bằng. Hiện tượng sụt lún đất diễn ra phổ biến với tốc độ từ 0,5 đến 3cm mỗi năm, riêng khu vực ven biển có thể lên đến 1,5–3cm/năm . Điều này làm hạ thấp mặt đất, gia tăng nguy cơ ngập và xâm nhập mặn.
Ngoài ra, lòng dẫn các sông chính như sông Tiền, sông Hậu cũng đang bị hạ thấp với tốc độ đáng kể, lần lượt khoảng 20cm/năm và 15cm/năm .
Những biến đổi này làm thay đổi cấu trúc thủy văn tự nhiên, thủy triều hoạt động mạnh hơn, làm cho mặn xâm nhập sâu vào nội địa, mặc dù dòng chảy mùa khô có gia tăng.

Những cống ngăn mặn ở ĐBSCL đã phát huy tác dụng tốt - Ảnh: C.K
- Xâm nhập mặn những năm gần đây được đánh giá ngày càng nghiêm trọng. Nguyên nhân chính của xu thế này là gì, thưa ông?
- PGS.TS. Nguyễn Phú Quỳnh: Trong mùa khô có những đợt mặn xâm nhập sâu là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó có ba nhóm nguyên nhân chính.
Thứ nhất là dòng chảy từ thượng nguồn về có tính biến động cao, đã làm xâm nhập mặn thay đổi quy luật và có nhiều khác biệt so với quá khứ như: mặn xuất hiện sớm, đỉnh mặn cũng xuất hiện sớm hơn từ 1-1,5 tháng; trong mùa khô, xuất hiện những giai đoạn mặn biến động nhanh và xâm nhập sâu vào nội địa.
Thứ hai là tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Theo các kịch bản được công bố năm 2021, với kịch bản nồng độ khí nhà kính trung bình (RCP 4.5) mực nước biển đến năm 2030 tăng 12cm; 2050 tăng 23cm; 2100 tăng 53cm , Đây là yếu tố làm gia tăng đáng kể phạm vi và cường độ xâm nhập mặn.
Thứ ba là các tác động nội tại, đặc biệt là tình trạng sụt lún đất và thay đổi sử dụng đất. Khi nền đất bị hạ thấp, khả năng chống chịu với xâm nhập mặn giảm đi rõ rệt. Đồng thời, việc phát triển nông nghiệp và các ngành sản xuất làm nhu cầu nước tăng cao cũng góp phần làm gia tăng rủi ro.
Các tính toán cho thấy, đến năm 2030, ranh mặn 4‰ có thể lấn sâu thêm trung bình khoảng 3,34km, và đến năm 2050 có thể tăng khoảng 6,7km so với hiện nay. Đây là con số đáng lo ngại, cho thấy xu thế gia tăng rõ rệt của xâm nhập mặn trong tương lai.

Trồng dưa mùa khô ở ĐBSCL - Ảnh: C.K
- Những tác động của hạn mặn đến phát triển kinh tế - xã hội của vùng hiện nay ra sao?
- PGS.TS. Nguyễn Phú Quỳnh: Hạn mặn đang tác động trực tiếp và sâu rộng đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội của ĐBSCL.
Trước hết là nông nghiệp – ngành kinh tế chủ lực của vùng. Xâm nhập mặn làm giảm năng suất và sản lượng lúa, cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản. Nhiều khu vực phải điều chỉnh lịch thời vụ, thậm chí bỏ vụ, gây thiệt hại lớn cho người dân.
Không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất, hạn mặn còn gây thiếu nước sinh hoạt cho người dân, đặc biệt ở các tỉnh ven biển. Chi phí sinh hoạt tăng lên, trong khi thu nhập từ sản xuất lại giảm, tạo ra áp lực kép đối với đời sống người dân.
Về lâu dài, những tác động này có thể làm thay đổi cấu trúc kinh tế của vùng, thúc đẩy quá trình chuyển dịch lao động và gia tăng di cư. Đây là những vấn đề cần được nhìn nhận trong chiến lược phát triển bền vững của toàn vùng.

ĐBSCL lại thiếu nước sinh hoạt mùa khô - Ảnh: C.K
- Trước thực trạng đó, theo ông, đâu là những giải pháp trọng tâm cần triển khai trong thời gian tới?
- PGS.TS. Nguyễn Phú Quỳnh: Giải pháp cho vấn đề hạn mặn và nguồn nước tại ĐBSCL cần mang tính tổng thể, liên ngành và liên vùng. Trước hết, cần chuyển đổi tư duy phát triển từ “chống lại thiên nhiên” sang “thích ứng có kiểm soát”. Đồng bằng cần được vận hành theo hướng chủ động tạo ra chế độ nước hợp lý trên nền điều kiện tự nhiên.
Thứ hai, cần tăng cường điều phối liên vùng trong quản lý tài nguyên nước. Việc vận hành hệ thống thủy lợi phải được thực hiện đồng bộ, đa mục tiêu và có sự phối hợp giữa các địa phương. Đây là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả sử dụng nước.
Thứ ba, ứng dụng mạnh mẽ khoa học – công nghệ trong dự báo và quản lý. Các mô hình dự báo xâm nhập mặn, hệ thống quan trắc tự động và công nghệ dữ liệu lớn cần được triển khai rộng rãi nhằm nâng cao năng lực cảnh báo sớm.
Thứ tư, cần điều chỉnh mô hình sản xuất phù hợp với từng vùng sinh thái. Đối với vùng có nguy cơ cao, cần xem xét giảm vụ, chuyển đổi cây trồng hoặc mô hình sản xuất. Vùng nguy cơ trung bình cần điều chỉnh lịch thời vụ và tăng cường tích trữ nước, trong khi vùng nguy cơ thấp vẫn có thể sản xuất bình thường nhưng phải đảm bảo đủ nguồn nước. Cuối cùng, sự tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp là rất quan trọng.
Chỉ khi có sự đồng thuận và phối hợp của tất cả các bên, các giải pháp mới có thể phát huy hiệu quả bền vững. Thực trạng nguồn nước và hạn mặn ở ĐBSCL đang đặt ra những thách thức chưa từng có. Tuy nhiên, với cách tiếp cận khoa học, liên kết vùng và thích ứng linh hoạt, ĐBSCL vẫn có thể hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, thịnh vượng trong tương lai.
Văn Kim Khanh