🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Người làm nên cơ nghiệp từ một bàn tay

2 giờ trước
Gian nhà tiếp khách của cựu chiến binh (CCB), thương binh, doanh nhân Phạm Thanh Xuân, xã Bảo Hà, tỉnh Lào Cai, được trang trí như một phòng truyền thống gia đình. Chính giữa tường nhà là tấm ảnh chân dung Bác Hồ kính yêu. Dưới ảnh Bác là thứ tự Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba; phía bên trái là Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; rất nhiều bằng khen của các bộ, ngành Trung ương và Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai… Những hình ảnh đó là minh chứng cho sự nỗ lực phấn đấu trong suốt mấy chục năm qua của CCB, thương binh Phạm Thanh Xuân nơi miền núi cao này. Trò chuyện với chúng tôi, ông nói vui: 'Người ta làm nên cơ nghiệp từ hai bàn tay, còn tôi chỉ có một'.

Ngược dòng thời gian, mùa xuân năm Canh Tuất (1970), từ vùng quê xã Đoàn Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, Phạm Thanh Xuân cùng bao thanh niên lên đường nhập ngũ. Sau 3 tháng huấn luyện, chàng tân binh được phiên vào đơn vị lính thông tin, hành quân vào Nam chiến đấu. Đã nhiều lần người lính thông tin phải vượt hiểm nguy dưới mưa bom, bão đạn của địch để nối thông mạch máu liên lạc, phục vụ chỉ huy chiến đấu. Mùa hè năm 1972, trong trận đánh diễn ra rất ác liệt tại thị xã Kon Tum, người chiến sĩ thông tin bị đạn pháo giặc găm nhiều mảnh nhỏ vào cơ thể, cướp đi một phần thị lực của đôi mắt, để lại chiến trường một phần cánh tay trái.

Mang trên mình thương tật hạng 2/4, Phạm Thanh Xuân trở về gia đình với căn nhà tranh cũ nát, vợ yếu, con thơ. Trong đầu người thương binh bộn bề biết bao điều về cuộc sống và chuyện học hành của con trẻ đang cần tìm lời giải. Nhớ lời Bác Hồ dạy “Thương binh tàn nhưng không phế”, Phạm Thanh Xuân có thêm nghị lực vượt qua những mặc cảm về thương tật trên thân thể. Chất lính không ngại khó, không ngại khổ đã nhắc nhở người thương binh quyết tìm ra một con đường mới trên trận tuyến chống đói nghèo.

Cựu chiến binh, thương binh Phạm Thanh Xuân giao dịch với khách hàng qua điện thoại.

Sau nhiều lần tàu xe ngược xuôi thăm dò tìm hiểu, mãi đến Tết Nguyên đán năm 1992, ông quyết định sẽ “dời đô gia đình” lên vùng núi Bảo Hà, tỉnh Lào Cai. Đến vùng quê mới ở Bản Lúc, ông được chính quyền địa phương xã Bảo Hà quan tâm tạo điều kiện định cư lâu dài thuộc diện ưu tiên hộ gia đình chính sách.

Lão nông thương binh có đất vỡ hoang làm ruộng nước, trồng ngô, khoai, sắn, đào ao thả cá. Niềm vui được nhân lên khi gia đình ông đã tạo dựng được cơ ngơi trang trại rộng hơn chục héc-ta, với gần 400 cây nhãn, vải ngày ngày vươn lên xanh tốt. Ông tận dụng những bãi cỏ dưới tán cây hay bên khe suối để chăn nuôi trâu, bò, dê, tăng thu nhập cho gia đình.

Dần dần nhà ông có “bát ăn, bát để”, nghèo đói cứ xa dần, các con được học hành đầy đủ. Ngôi nhà mới khang trang được xây dựng thay thế túp lều tranh vách nứa nơi tá túc của gia đình ngày mới lập nghiệp.

Sống giữa vùng rừng núi xã Bảo Hà đã thôi thúc người CCB thực hiện ý định làm vườn ươm cây lâm nghiệp. Ông lặng thầm khăn gói lên đường đi học hỏi, tham khảo một số mô hình ở các địa phương khác, lặn lội kiếm tìm nguồn cung cấp hạt giống, túi bầu, phân bón… Bắt đầu từ năm 1996 cho đến nhiều năm sau, hơn chục héc-ta luôn phủ kín màu xanh. Vườn ươm gia đình ông trở thành địa chỉ giao dịch bán cây giống keo, mỡ, quế, bồ đề, trẩu, phục vụ bà con có nhu cầu trồng vườn rừng gần xa.

Thương binh Phạm Thanh Xuân (bên phải) trong vườn ươm cây giống. Ảnh do nhân vật cung cấp

Ươm cây và bán cây giống mang tên Hợp tác xã nông nghiệp Thanh Phong do ông làm Chủ nhiệm, đã tạo việc làm theo thời vụ cho hàng chục lao động là con em người dân tộc trong Bản Lúc có thêm thu nhập. Gia đình ông cũng có thu nhập từ 100 đến 200 triệu đồng/năm sau khi trừ các khoản chi phí. Nguồn thu nhập của gia đình đã tích cóp được hàng trăm triệu đồng, ông coi đó là những viên gạch nhỏ để xây một ngôi nhà lớn.

Gắn bó thân thiện với rừng núi đã giúp ông nhận thấy tiềm năng của thiên nhiên “trăm hoa đua nở” có thể bổ sung thêm nghề nuôi ong. Cuối năm 1996, ông làm thử bằng cách bỏ vốn mua gom mấy chục đàn giống ong địa phương của những hộ gia đình nuôi nhỏ lẻ ở các xã vùng núi cao. Không phụ công người, đàn ong của ông dần ổn định và đã nhân giống lên được hơn 100 đàn, mỗi năm cho thu hoạch hàng chục tấn mật đưa ra thị trường tiêu thụ.

Ông cho rằng nuôi ong tận dụng nguồn thức ăn hoa trái sẵn có trong tự nhiên, công chăm sóc và thu hoạch mật lại đơn giản. Chi phí ban đầu đóng tổ (đõ ong) không lớn lắm. Tuy vậy, những năm đầu mới nuôi ong do chưa hiểu biết nhiều về kỹ thuật nên sau một thời gian khai thác mật, ong bỏ tổ bay đi, số còn lại chết hàng loạt. Xót xa khi thấy ong lũ lượt rã đàn bỏ tổ bay đi và chết, ông coi đó là một thất bại về kinh tế, thất bát vốn đầu tư. Với bản lĩnh can trường của người lính đã từng một thời “hoa lửa” không cho phép ông nản lòng, cuối cùng thì loài ong hoang dã cũng bị thuần phục.

Không dừng lại việc nuôi ong, ông đọc báo, nghe đài, xem ti vi học hỏi thêm mô hình nuôi giống ngoại nhập cho năng suất cao, chất lượng mật thương phẩm tốt. Năm 2000, ông đầu tư vốn mua một lúc 80 đàn có nguồn gốc xuất xứ từ Italia đưa về vùng núi Bảo Hà. Nuôi ong nhập ngoại phải bảo đảm ấm về mùa đông, thoáng mát về mùa hè. Vào mùa ít hoa, đầu tư công sức di chuyển hàng trăm đàn ong “du mục” đến những cánh rừng xa, bãi bồi ven sông, ven biển để duy trì sự sinh tồn cho ong và khai thác mật…

Để mật ong cạnh tranh được trên thị trường, Công ty TNHH phát triển ong miền núi Thanh Xuân được thành lập do ông làm Giám đốc. Ông đầu tư công nghệ máy quay ly tâm gắn kết dây chuyền máy hạ thủy phần để cho ra sản phẩm mật ong nguyên chất đạt chuẩn OCOP 5 sao cấp tỉnh. Cùng với mật ong nguyên chất còn có sữa ong chúa 4 sao, phấn hoa đạt 3 sao.

Thương binh Phạm Thanh Xuân (ngoài cùng, bên phải) xây dựng cơ nghiệp từ một bàn tay.

Bên cạnh đó, Công ty còn có các loại sản phẩm được chế biến sâu theo mùa hoa có nhiều yếu tố tinh dược như mật ong hoa đu đủ đực, mật ong hoa chanh đào, mật ong hoa sơn tra (táo mèo). Những sản phẩm chủ lực của Công ty như mật ong nguyên chất, mật ong phấn hoa sữa ong chúa, phấn hoa và sữa ong chúa được tiêu thụ rộng rãi ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước.

Bình quân mỗi năm, Công ty đưa ra thị trường tiêu thụ từ 25 đến 30 tấn mật nguyên chất, 2 tấn phấn hoa, khoảng 200kg sữa ong chúa. Lợi nhuận thu về hơn 1 tỷ đồng/năm, tạo việc làm cho hơn 30 người có thu nhập từ 4 đến 6 triệu đồng/người/tháng.

Trao đổi với cấp ủy, chính quyền xã Bảo Hà, chúng tôi được đồng chí Nguyễn Văn Dũng, Phó chủ tịch HĐND xã Bảo Hà (nguyên Phó bí thư Thường trực Đảng ủy xã trước sáp nhập) cho biết: "CCB, thương binh Phạm Thanh Xuân là chủ hộ gia đình nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi tại địa phương. Ông cùng bà con trong thôn, trong xã đoàn kết đóng góp công sức xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo bền vững; hỗ trợ về kỹ thuật và phương pháp nuôi ong mật, làm kinh tế trang trại cho bà con các dân tộc trong xã Bảo Hà. Hằng năm, ông dành hàng trăm suất quà từ sản phẩm nuôi ong tặng các gia đình chính sách; đóng góp tiền, vật liệu để làm đường giao thông nông thôn...".

Bây giờ ở tuổi xưa nay hiếm, ông vẫn sống bình dị giữa đời thường, vẫn lạc quan, vẫn tiếp tục cống hiến. Ông luôn tâm niệm: Phải cố gắng lao động và sống cho xứng đáng bởi những gì mình có được như ngày hôm nay là nhờ hồng phúc của bao đồng đội đã ngã xuống, đã hy sinh một phần thân thể...

Được gần gũi trò chuyện với CCB, thương binh Phạm Thanh Xuân, tôi cảm thấy ông như con ong cần mẫn, biến những tinh túy từ trăm, ngàn, vạn, triệu bông hoa thành mật ngọt dâng cho đời.

TUẤN LỢI

















Home Icon VỀ TRANG CHỦ