Nghị định quản lý thuế, hóa đơn điện tử: Giảm thủ tục, gỡ vướng cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh
Ngày 27/3, tại Hà Nội, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Cục Thuế, Bộ Tài chính tổ chức Hội thảo “Góp ý hoàn thiện Dự thảo Nghị định quy định chi tiết Luật Quản lý thuế và Nghị định quy định về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử”.
Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp
Ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký VCCI cho biết, Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 sẽ có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, trong đó một số quy định về khai thuế, tính thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Hai nghị định quy định chi tiết Luật Quản lý thuế và quy định về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử là các văn bản có phạm vi điều chỉnh rộng, tác động trực tiếp đến hàng triệu người nộp thuế trên cả nước. Chất lượng của các nghị định này sẽ quyết định phần lớn trải nghiệm tuân thủ thuế của DN trong nhiều năm tới.
Qua nghiên cứu dự thảo, VCCI ghi nhận tinh thần đổi mới rõ nét mà cơ quan soạn thảo đã thể hiện. Việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý thuế, từ giao dịch điện tử, cơ sở dữ liệu tập trung, đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích rủi ro, là phù hợp với xu thế quốc tế và đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Nguyên tắc lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ được quán triệt xuyên suốt trong cả hai dự thảo.
Việc bãi bỏ thuế khoán, mở rộng các trường hợp không phải nộp hồ sơ khai thuế khi cơ quan thuế đã kết nối được dữ liệu, quy định chế độ ưu tiên cho doanh nghiệp tuân thủ tốt, đơn giản hóa thủ tục hành chính đều là những bước tiến đáng khích lệ.
“Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã đặt ra yêu cầu cụ thể là cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, ít nhất 30% chi phí tuân thủ pháp luật. Mỗi điều khoản trong hai nghị định này cần được đánh giá trên cơ sở mục tiêu đó. Một văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng là được xây dựng trên cơ sở thực tiễn, lắng nghe đầy đủ ý kiến của đối tượng chịu tác động và có thể triển khai thuận lợi trong thực tế” - ông Đậu Anh Tuấn nhấn mạnh.

Hội thảo “Góp ý hoàn thiện Dự thảo Nghị định quy định chi tiết Luật Quản lý thuế và Nghị định quy định về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử”.
Bà Phạm Thị Minh Hiền - Phó Trưởng ban Chính sách thuế quốc tế, Cục Thuế (Bộ Tài chính) cho biết, dự thảo nghị định gồm 5 chương, 43 điều, giảm đáng kể so với 61 điều của nghị định hiện hành. Việc rút gọn này nhằm loại bỏ các nội dung trùng lặp, đồng thời chuyển một số quy định kỹ thuật xuống cấp thông tư để tăng tính linh hoạt trong điều hành.
Theo bà Hiền, quá trình xây dựng nghị định bám sát 5 quan điểm lớn, trong đó trọng tâm là đẩy mạnh chuyển đổi số, hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ cho quản lý thuế hiện đại và đặc biệt là giảm tối đa thủ tục hành chính. “Tinh thần xuyên suốt là lấy người nộp thuế làm trung tâm, đơn giản hóa quy trình, nâng cao tính minh bạch và khả thi của chính sách” - bà Hiền nhấn mạnh.
Cùng với đó, dự thảo nghị định hướng tới tái thiết kế quy trình quản lý thuế theo hướng tự động hóa, tích hợp dữ liệu, tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan. Các thủ tục hành chính được thực hiện trên môi trường điện tử, không phụ thuộc địa giới hành chính, góp phần tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp.
Đại diện Hội Tư vấn Thuế Việt Nam (VTCA), bà Lê Thị Duyên Hải đánh giá cao việc cơ quan soạn thảo đã tiếp thu thực tiễn và đưa nhiều nội dung quan trọng vào dự thảo. Theo bà Hải, các quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử ngày càng rõ ràng, minh bạch, đồng thời khuyến khích người dân, doanh nghiệp và cơ quan thuế đẩy mạnh ứng dụng công nghệ.
“Việc hoàn thiện nghị định theo hướng rõ ràng, dễ hiểu sẽ giúp người nộp thuế tuân thủ thuận lợi hơn, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý của cơ quan thuế” - bà Hải nhận định.
Thực tế cho thấy, số lượng hóa đơn điện tử tại Việt Nam đã tăng nhanh, với hơn 20 tỷ hóa đơn được phát hành. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, vừa đảm bảo quản lý hiệu quả, vừa hỗ trợ doanh nghiệp thích ứng với môi trường số.
Gỡ “nút thắt” cho hộ kinh doanh, giảm gánh nặng thủ tục
Ông Bùi Ngọc Tuấn - Phó Tổng Giám đốc Deloitte Việt Nam cho biết, liên quan đến quy định công khai thông tin người nộp thuế, trên thực tế việc thực hiện các thủ tục đóng cửa công ty, chấm dứt hiệu lực mã số thuế được thực hiện trong thời gian dài do nhiều lý do khách quan, nhiều trường hợp không phải lỗi của người nộp thuế, hoặc phát sinh trường hợp DN không hoạt động tại địa chỉ đăng ký nhưng sau đó xác minh và mở lại, theo đó việc công khai thông tin liên quan đến chủ sở hữu hưởng lợi, chủ sở hữu, người đại diện theo pháp luật có thể ảnh hưởng đến uy tín, quyền lợi của DN và cá nhân liên quan. Vì vậy, việc công khai thông tin cần có quy trình, thời gian phù hợp.
Đại diện Deloitte Việt Nam đề xuất cơ quan thuế phải thông báo cho người nộp thuế về công khai thông tin và được người nộp thuế xác nhận, ngoại trừ trường hợp bất khả kháng. Theo đó, trước khi công khai thông tin, cơ quan quản lý thuế phải gửi thông báo dự kiến công khai cho người nộp thuế bằng phương thức điện tử hoặc thông báo trực tiếp trong đó nêu rõ lý do và nội dung dự kiến công khai cho người nộp thuế xác nhận, trừ các trường hợp bất khả kháng. Người nộp thuế có quyền giải trình hoặc khắc phục vi phạm trong thời hạn tối thiểu 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo.
Liên quan đến trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc xử lý chấm dứt hiệu lực mã số thuế, Dự thảo Nghị định chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Ông Tuấn cho rằng, việc kéo dài thời hạn kiểm tra thuế có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế. Khi người nộp thuế chấm dứt hoạt động kinh doanh, việc hoàn tất thủ tục đóng mã số thuế là điều kiện cần thiết để thực hiện các thủ tục pháp lý tiếp theo như giải thể DN, chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc hoàn tất nghĩa vụ với các cơ quan quản lý khác. Nếu thời gian xử lý kéo dài sẽ gây khó khăn cho người nộp thuế và làm chậm tiến độ thực hiện các thủ tục hành chính liên quan.
Đại diện Deloitte Việt Nam đề xuất bổ sung vào Khoản 2, Điều 7, Dự thảo Nghị định như sau: “Cơ quan thuế có trách nhiệm thực hiện kiểm tra thuế và ban hành kết luận trong vòng 30 ngày từ khi người nộp thuế hoàn thành đầy đủ thủ tục nộp hồ sơ chấm dứt hiệu lực mã số thuế”.
Góp ý thêm cho Dự thảo Nghị định, ông Nguyễn Đức Thuận - Chủ tịch Hội các nhà quản trị DN Việt Nam cho biết, Dự thảo chưa có quy định về vấn đề liên quan đến khai thuế thu nhập DN đối với DN nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam phát sinh thu nhập liên quan đến cơ sở thường trú đó.
Ông Thuận cho biết, loại hình “cơ sở thường trú” là khái niệm rất quan trọng trong thông lệ quốc tế, được thừa nhận rộng rãi trong các hiệp định tránh đánh thuế hai lần. Khi DN nước ngoài có hoạt động tại Việt Nam thông qua cơ sở thường trú, phần thu nhập phân bổ cho cơ sở thường trú sẽ thuộc quyền thu thuế của Việt Nam. Tuy nhiên, Thông tư 20/2025/TT-BTC quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập DN không quy định rõ phương pháp tính thuế cho nhóm đối tượng này, tạo nên sự không rõ ràng về cơ chế pháp lý, dẫn đến rủi ro khi xác định nghĩa vụ thuế cho cả người nộp thuế và cơ quan thuế.
“Chúng tôi kiến nghị Bộ Tài chính cân nhắc trình Chính Phủ tiếp tục áp dụng các quy định về thuế nhà thầu đối với các đối tượng này, cụ thể là bổ sung quy định hướng dẫn khai, nộp thuế khấu trừ tại nguồn theo phương pháp trực tiếp thông qua bên Việt Nam. Trong thời gian chưa có hướng dẫn, đề nghị Bộ Tài chính cho phép DN tiếp tục kê khai nộp thuế theo cơ chế thuế nhà thầu để đảm bảo tính liên tục và tránh việc thất thu thuế cho nhà nước cũng như rủi ro không tuân thủ cho DN” - ông Thuận chia sẻ.
Góp ý cho Dự thảo Nghị định quy định về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử, ông Nguyễn Đức Thuận cho biết, hiện quy định hiện hành không có hướng dẫn về việc xuất hóa đơn đối với trường hợp xuất hàng hóa bảo hành, thay thế cho hàng hóa đã xuất bán trước đó nhưng bị lỗi hỏng và người bán đã xuất hóa đơn cho người mua. Do vậy, thực tế DN gặp khó khăn, lúng túng không rõ có phải hủy hóa đơn cũ, xuất hóa đơn mới khi xuất hàng bảo hành hay không. Thực tế cũng có thể có nhiều diễn giải khác nhau dẫn đến việc thực hiện không thống nhất.
“Dự thảo nên có quy định việc xuất hàng bảo hành như trên thuộc trường hợp không phải xuất hóa đơn điện tử, do thực tế giao dịch bán hàng, ghi nhận doanh thu bán hàng đã phát sinh từ trước đó. Việc xuất hàng bảo hành chỉ là xuất bù hàng đã bán do hàng bị lỗi hỏng” - ông Thuận đề xuất.
Mai Anh
7 giờ trước
9 giờ trước
9 giờ trước
11 giờ trước
12 giờ trước
15 giờ trước
16 giờ trước
18 giờ trước
20 giờ trước
1 ngày trước
43 phút trước
6 giờ trước
44 phút trước
4 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước
6 giờ trước