🔍
Chuyên mục: Nghệ thuật

Nghệ thuật phổ nhạc cho thơ qua những 'Bài ca đi cùng năm tháng'

2 giờ trước
Từ những bài thơ giàu cảm xúc, nhiều nhạc sĩ đã sáng tạo nên các ca khúc có sức sống lâu bền, trở thành 'Bài ca đi cùng năm tháng'. Nghệ thuật phổ nhạc cho thơ vì thế không chỉ là chuyển thể, mà còn là quá trình chọn lọc, sáng tạo và làm mới để phù hợp với ngôn ngữ âm nhạc.

Trong lịch sử ca khúc Việt Nam hiện đại, sau bài hát “Cùng nhau đi hùng binh” của nhạc sĩ Đinh Nhu (1903–1945), cho tới nay đã có hàng nghìn bài hát ra đời, được Hội Nhạc sĩ Việt Nam tập hợp thành nhiều tập mang tên "Tiếng hát Việt Nam", do Bộ Văn hóa ấn hành từ năm 1977 đến nay. Trong số hàng nghìn bài hát ấy, có nhiều bài đã trở thành “Bài ca đi cùng năm tháng”. Trong số đó, có tới 20% bài hát được hình thành từ những bài thơ, và nhiều bài hát phổ thơ đã trở thành những “Bài ca đi cùng năm tháng”.

Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu (phải) và nhạc sĩ Trần Thanh Tùng

Nhìn từ góc độ học thuật cũng như kỹ năng sáng tác, nhiều nhạc sĩ đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật phổ nhạc cho thơ. Qua tìm hiểu với hàng trăm bài thơ được các thế hệ nhạc sĩ phổ nhạc thành công, có thể thấy một số đặc điểm nổi bật.

Đặc điểm thứ nhất là tên bài hát cũng chính là tên của bài thơ được phổ nhạc, như “Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây” (nhạc Hoàng Hiệp, thơ Phạm Tiến Duật), “Vàm Cỏ Đông” (nhạc Trương Quang Lục, thơ Hoài Vũ), “Bóng cây Kơnia” (nhạc Phan Huỳnh Điểu, thơ Ngọc Anh), “Đợi” (nhạc Huy Thục, thơ Vũ Quần Phương), “Chị tôi” (nhạc Trọng Đài, thơ Đoàn Thị Tảo)…

Đặc điểm thứ hai là tên bài hát không còn là tên của bài thơ sau khi phổ nhạc. Ví dụ, bài thơ “Trăng lên” của Phạm Ngọc Cảnh trở thành bài hát “Vầng trăng Ba Đình” của nhạc sĩ Thuận Yến; bài thơ “Em gái Trường Sơn” của Nguyễn Đình Thi trở thành bài hát “Lá đỏ” của nhạc sĩ Hoàng Hiệp; bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải trở thành bài hát “Một mùa xuân nho nhỏ” của nhạc sĩ Trần Hoàn. Bài thơ “Đêm sông Cầu” của Đỗ Trung Lai được phổ thành ba bài hát với ba tên khác nhau: “Tình yêu bên dòng sông Quan họ” (Phan Lạc Hoa), “Nơi em về làm dâu” (Trần Thanh Tùng), “Từ phương anh, từ phương em” (Văn Thành Nho).

Đặc điểm thứ ba là khi khai thác lời thơ, các nhạc sĩ có thể thêm hoặc bớt một số từ để phù hợp với dấu thanh và giai điệu của ca khúc. Nhiều trường hợp, nhạc sĩ lược bỏ một phần lớn lời thơ để tránh sự nhàm chán. Ví dụ, bài hát “Vàm Cỏ Đông” của nhạc sĩ Trương Quang Lục (phổ thơ Hoài Vũ), trong đó bài thơ gốc có 44 câu nhưng đã bỏ đi 24 câu. Có trường hợp nhạc sĩ không sử dụng trực tiếp lời thơ mà làm lời mới dựa trên thơ, gọi là “phỏng thơ”, như bài “Tình khúc Nguyệt Hồ” của nhạc sĩ Trần Thanh Tùng, phỏng theo thơ Nguyễn Khắc Hào.

Đặc điểm thứ tư là yếu tố âm hình tiết tấu. Trong bài “Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây” của nhạc sĩ Hoàng Hiệp (phổ thơ Phạm Tiến Duật), với nhịp 2/4, ở giữa ô nhịp có nốt kép nối sang nốt kép hoặc nốt kép nối sang nốt đơn; hoặc như trong bài “Gửi em ở cuối sông Hồng” của nhạc sĩ Thuận Yến. Dạng cấu trúc âm hình tiết tấu này xuất hiện nhiều trong các “Bài ca đi cùng năm tháng” từ những năm 70 của thế kỷ XX, trước đó không có trong ca khúc Việt Nam hiện đại.

Trên đây là những nét tiêu biểu của nghệ thuật phổ thơ mà nhiều nhạc sĩ đã khai thác thành công trong nhiều năm qua. Với lời ca giàu hình ảnh trong giai điệu hấp dẫn, dễ nhớ, dễ thuộc, những ca khúc này đã góp phần làm nên diện mạo của các “Bài ca đi cùng năm tháng”.

Nhạc sĩ Trần Thanh Tùng/VOV
















Home Icon VỀ TRANG CHỦ