Ngành tiêu dùng nửa cuối năm 2026: Động lực tăng trưởng từ FRT, VNM, MSN
Kết thúc nửa đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng tích cực với mức tăng 8,81% so với cùng kỳ. Trong đó, tiêu dùng tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng khi tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,9%, riêng doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 12,5%.
Tuy nhiên, sức mua vẫn phục hồi chưa đồng đều, tập trung nhiều hơn ở các nhóm hàng thiết yếu và sản phẩm có mức giá hợp lý. Theo Chứng khoán Guotai Haitong Việt Nam (GTHT), nửa cuối năm 2026 được kỳ vọng là giai đoạn phục hồi rõ nét hơn của ngành tiêu dùng, song tốc độ tăng trưởng vẫn có sự phân hóa giữa các phân khúc.
GTHT ưu tiên các doanh nghiệp có khả năng mở rộng quy mô, gia tăng thị phần và cải thiện hiệu quả vận hành. Ở chiều ngược lại, chi phí đầu vào, cạnh tranh khuyến mãi và sức mua chưa phục hồi đồng đều tiếp tục là những rủi ro cần lưu ý.
Long Châu tiếp tục là động lực tăng trưởng cho FRT
CTCP Bán lẻ Kỹ thuật số FPT (HoSE: FRT) ghi nhận doanh thu 6 tháng đầu năm 2026 đạt 30.743 tỷ đồng, tăng 33% so với cùng kỳ; lợi nhuận trước thuế đạt khoảng 1.038 tỷ đồng. Kết quả này tương đương 52% kế hoạch doanh thu và 67% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ Long Châu, với doanh thu 21.448 tỷ đồng, tăng 33% so với cùng kỳ và đóng góp khoảng 70% doanh thu hợp nhất.
Theo Q&Me, nhà thuốc Long Châu ghi nhận từ 2.417 nhà thuốc cuối năm 2025, chuỗi đã nâng lên 2.639 nhà thuốc vào cuối quý II/2026, tương đương tăng thêm 222 cửa hàng chỉ trong 6 tháng. Mạng lưới tiêm chủng cũng được mở rộng lên 236 trung tâm.
Điểm đáng chú ý là tốc độ mở rộng vẫn đi cùng với sự cải thiện hiệu suất. Doanh thu Long Châu đạt 21.448 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm, tăng 33% so với cùng kỳ, trong khi doanh thu bình quân đạt khoảng 1,3 tỷ đồng/nhà thuốc/tháng, cao hơn mức bình quân năm 2025.
Theo GTHT, dư địa tăng trưởng của Long Châu không còn chỉ đến từ việc gia tăng độ phủ tại các đô thị lớn mà còn đến từ quá trình thâm nhập các tỉnh, thành và khu vực có mức độ hiện đại hóa kênh bán lẻ thấp hơn.

Bên cạnh Long Châu, FPT Shop cũng cho thấy tín hiệu phục hồi rõ nét. Doanh thu 6 tháng đầu năm tăng trưởng hai chữ số nhờ sức mua sản phẩm công nghệ cải thiện và hiệu suất cửa hàng tăng. Riêng quý I/2026, doanh thu đạt 4.815 tỷ đồng, tăng 31% so với cùng kỳ, tương đương khoảng 2,6 tỷ đồng/cửa hàng/tháng.
GTHT kỳ vọng biên lợi nhuận hợp nhất tiếp tục mở rộng khi Long Châu đạt quy mô đủ lớn để tạo đòn bẩy vận hành, trong khi FPT Shop chuyển sang đóng góp lợi nhuận ổn định hơn. Đây là yếu tố giúp lợi nhuận sau thuế có thể tăng nhanh hơn doanh thu trong nửa cuối năm.
Danh mục thuốc và dịch vụ y tế được mở rộng cũng tạo thêm dư địa tăng trưởng cho Long Châu. Việc bổ sung thuốc thế hệ mới, thuốc hiếm và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có thể góp phần nâng giá trị đơn hàng và tăng mức độ gắn kết khách hàng. GTHT đánh giá cao tiềm năng của mảng tiêm chủng, dù vẫn cần theo dõi thêm chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp để củng cố triển vọng này.
Trên cơ sở đó, GTHT đưa ra khuyến nghị khả quan đối với FRT với giá mục tiêu 150.100 đồng/cổ phiếu.
VNM Lợi nhuận tăng nhanh hơn doanh thu
Trong nhóm doanh nghiệp tiêu dùng, GTHT đánh giá Vinamilk (VNM) là lựa chọn tương đối an toàn nhờ khả năng duy trì thị phần và chính sách cổ tức ổn định qua các năm. Công ty chứng khoán này đưa ra giá mục tiêu của VNM ở mức 68.000 đồng/cp.
Trong quý II/2026, doanh thu VNM đạt 18.856 tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ, trong khi lợi nhuận sau thuế tăng 28%, lên 3.184 tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng, doanh thu đạt 35.034 tỷ đồng, tăng 17,7%, còn lợi nhuận sau thuế đạt 5.643 tỷ đồng, tăng 38,4% so với cùng kỳ. Các kết quả này tương ứng 49,6% và 55,2% dự phóng cả năm.
Tăng trưởng của VNM đến từ cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Doanh thu nội địa tăng 12,4%, được hỗ trợ bởi các nhóm sữa nước, sữa chua và sản phẩm dinh dưỡng dành cho người trưởng thành. Trong khi đó, doanh thu xuất khẩu trực tiếp tăng 42,3%, tiếp tục là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng. Hoạt động của các công ty con, đặc biệt là Angkor Milk và Driftwood, cũng đóng góp tích cực vào kết quả hợp nhất.

Theo chứng khoán GTHT, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế của VNM cao hơn doanh thu nhờ tỷ trọng sản phẩm có giá trị gia tăng cao được cải thiện, cùng với mặt bằng chi phí đầu vào thuận lợi. Biên lợi nhuận sau thuế 6 tháng đầu năm đạt 16,1%, tăng từ mức 13,7% cùng kỳ năm trước.
Trong nửa cuối năm, GTHT kỳ vọng VNM tiếp tục phục hồi nhờ xu hướng cao cấp hóa và đổi mới danh mục sản phẩm. Tỷ trọng sản phẩm cao cấp đã vượt mức hai chữ số, trong đó Green Farm ghi nhận tăng trưởng ba chữ số, còn Optimum A2 Pro+ nhanh chóng đóng góp vào doanh thu sau 6 tháng ra mắt. Việc mở rộng phân phối Mộc Châu Creamery tại khu vực phía Nam cũng được kỳ vọng tạo thêm dư địa tăng trưởng.
Ở góc độ thị trường, sức mua nội địa cải thiện và lạm phát được kiểm soát sẽ hỗ trợ nhu cầu tiêu thụ sữa. Trong khi đó, việc căng thẳng tại Trung Đông hạ nhiệt có thể tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động xuất khẩu.
Về chi phí, giá nguyên liệu đã được chốt đến tháng 11 và vẫn trong tầm kiểm soát. Do đó, biên lợi nhuận gộp được kỳ vọng duy trì ổn định, trong khi tăng trưởng lợi nhuận sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào việc cải thiện cơ cấu sản phẩm thay vì tăng giá bán.
Dù vậy, sức mua chưa phục hồi hoàn toàn và cạnh tranh trong ngành vẫn ở mức cao. Việc VNM chưa có kế hoạch tăng giá bán trong năm 2026 cũng khiến dư địa tăng trưởng doanh thu khó bứt phá mạnh. Theo GTHT, động lực chính của VNM trong nửa cuối năm sẽ đến từ cao cấp hóa, sản phẩm mới và xuất khẩu, trong khi biên lợi nhuận được bảo vệ nhờ kiểm soát chi phí đầu vào.
MSN Hệ sinh thái tiêu dùng – bán lẻ tiếp tục cải thiện
Đối với Masan (MSN), GTHT đưa ra giá mục tiêu 73.000 đồng/cp và đánh giá triển vọng nửa cuối năm 2026 tiếp tục tích cực nhờ sức mua FMCG phục hồi và hiệu quả hoạt động của các mảng kinh doanh được cải thiện.
Trong 6 tháng đầu năm, MSN ghi nhận doanh thu khoảng 52.100 tỷ đồng, tăng 38% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số (NPAT Pre-MI) đạt 5.800 tỷ đồng, tăng 2,2 lần, nhờ đóng góp nổi bật từ Masan High-Tech Materials (MSR) và sự cải thiện hiệu quả của hệ sinh thái tiêu dùng – bán lẻ.

WinCommerce (WCM) tiếp tục mở rộng mạng lưới, đặc biệt tại khu vực nông thôn với mô hình Minimart Nông thôn+. Trong quý II, WCM mở thêm 324 cửa hàng, nâng tổng số cửa hàng lên 5.141. Hơn 90% số cửa hàng mới đạt điểm hòa vốn EBITDA ngay trong quý.
Theo GTHT, WCM đặt mục tiêu mở khoảng 1.000-1.500 cửa hàng mới trong năm 2026. Tăng trưởng doanh thu trên các cửa hàng hiện hữu ở mức hai chữ số cùng khả năng đạt điểm hòa vốn nhanh của các cửa hàng mới cho thấy năng suất vận hành đang được cải thiện.
Trong khi đó, Masan MeatLife (MML) được hưởng lợi từ giá heo hơi giảm, qua đó hỗ trợ chi phí nguyên liệu và biên lợi nhuận. Tuy nhiên, giá ngô và thức ăn chăn nuôi tăng trở lại có thể gây áp lực lên mảng chăn nuôi. Việc gia tăng tỷ trọng thịt chế biến được kỳ vọng giúp MML giảm phụ thuộc vào biến động giá nguyên liệu.
Kết quả quý II cho thấy định hướng này đang được thể hiện rõ hơn. Doanh thu thịt tươi tăng 15,2%, trong khi thịt chế biến tăng tới 34,7%, chiếm 37,6% doanh thu. Các sản phẩm mới như Heo Cao Bồi và Ponnie tiếp tục tăng trưởng, cho thấy MML đang từng bước chuyển dịch từ thịt tươi sang các sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao hơn.
Đối với Masan Consumer (MCH), doanh thu và độ phủ tại kênh GT tiếp tục phục hồi sau quá trình tái cấu trúc mô hình Retail Supreme. Trong quý II, doanh số kênh GT tăng 10,6%, số điểm bán lên khoảng 550.000, trong khi số SKU trên mỗi điểm bán đạt 5,8. Tuy nhiên, chi phí bán hàng và marketing vẫn là yếu tố gây áp lực lên biên lợi nhuận.
Trong khi đó, MSR được kỳ vọng tiếp tục là động lực lợi nhuận nổi bật trong ngắn hạn khi giá tungsten/APT duy trì ở mức cao và sản lượng phục hồi, qua đó hỗ trợ đáng kể cho lợi nhuận của MSN trong nửa cuối năm.
Thơ Hoàng
6 ngày trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước