🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Ngân hàng dữ liệu số về văn hóa xứ Quảng

2 giờ trước
Xứ Quảng xưa trong tâm thức lịch sử dân tộc luôn giữ vai trò là vùng đất đứng chân, bàn đạp tiên phong cho công cuộc mở cõi về phương Nam. Đáng tiếc, sự khắc nghiệt của thiên tai, địch họa đã khiến nguồn dữ liệu Hán Nôm làng xã và dòng họ - không gian gốc nuôi dưỡng và trao truyền di sản - bị thất tán, mai một đến xót xa.

VICAST miền Trung tiếp cận, phiên dịch và khảo cứu. Ảnh: VICAST

Đứng trước những “khoảng trống” ký ức, việc số hóa và xây dựng “Ngân hàng dữ liệu số về văn hóa xứ Quảng “ vừa là câu chuyện của công nghệ lẫn nỗ lực hồi cố để hồi sinh diện mạo lịch sử, văn hóa truyền thống của tiền nhân.

Mạch ngầm sử liệu từ “Quảng Nam tỉnh tạp biên”

Ngược thời gian về những thập niên đầu thế kỷ 20, một không khí học thuật mới mẻ được khơi dòng với sự ra đời của Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) tại Hà Nội. Với nhãn quan khoa học thực địa bài bản, các học giả đương thời đã thực hiện chương trình điều tra khảo sát đại quy mô trên diện rộng tại làng xã xứ Quảng. Thành quả đồ sộ lưu lại cho hậu thế chính là bộ Quảng Nam tỉnh tạp biên (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) mà VICAST miền Trung tiếp cận, phiên dịch và khảo cứu.

Với quy mô 15 quyển, bao quát 79 đơn vị hành chính cấp cơ sở (xã, thôn, châu, phường) và tổng cộng 3.446 trang viết tay trên giấy Tây. Đây thực sự là một “tổng tập” Hán Nôm minh họa vô cùng đặc sắc, với hàng nghìn đơn vị tài liệu.

Quảng Nam tỉnh tạp biên chứa đựng một “ký ức văn hóa” toàn diện, từ hệ thống sắc phong thần linh trải dài qua các triều đại Lê - Nguyễn; các văn bản ruộng đất, địa bạ từ thời Tây Sơn cho đến hương phả, gia phả, tộc ký của các dòng họ tiền hiền... Bộ tài liệu này là phần phụ lục bằng văn bản gốc tuyệt đẹp, song hành và minh chứng cho phần khảo cứu tiếng Việt mang tên Quảng Nam xã chí.

Tuy nhiên, có một thực tế đau lòng là qua hơn một thế kỷ dâu bể, nhiều ngôi đình rêu phong đã hạ giải, nhiều hòm bộ dòng họ đã trống trơn, vô số sắc phong, văn bia gốc chốn làng quê nay đã không còn nữa. Nhiều di sản chỉ còn tồn tại... trên những trang sao chép từ một trăm năm trước.

Sự đứt gãy tư liệu giấy bản ấy chính là động lực kích thích khát vọng, buộc chúng tôi phải dấn thân vào một hành trình bền bỉ suốt hơn 10 năm qua.

Các văn bia được in rập, sao chép để thực hiện số hóa.

Kiến tạo “Ngân hàng dữ liệu số”

Phân viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch miền Trung đã bắt tay thực hiện công trình dịch thuật, dữ liệu hóa và công bố toàn bộ nguồn sử liệu quý giá là Quảng Nam tỉnh tạp biên. Đặc biệt, sự đồng hành và tài trợ kịp thời của Quỹ VINIF đã tiếp thêm nguồn lực vàng để chúng tôi hiện thực hóa khát vọng đưa di sản đến với cộng đồng.

Hành trình số hóa toàn bộ sắc phong, văn bia, thần tích của các ngôi làng khắp xứ Quảng được triển khai bằng phương pháp tiếp cận liên ngành (Hán Nôm học, lịch sử, văn hóa học, dân tộc học và công nghệ dữ liệu).

Khối lượng công việc cực kỳ nặng nề bởi đội ngũ sao chép thời trước dùng nhiều lối chữ viết, có khi cẩn thận, có khi viết vội, viết nhầm và sắp xếp tự do. Chúng tôi phải xử lý kỹ thuật, quét file số (scan) chất lượng cao từng trang tài liệu, rồi tiến hành phiên âm, dịch nghĩa, chú giải chuyên sâu.

Ngân hàng dữ liệu số về văn hóa xứ Quảng không dừng lại ở việc lưu trữ đông cứng trong văn phòng. Chúng tôi cấu trúc toàn bộ thành tựu này thành một bộ sách quy mô 10 tập với tập đầu là phần nghiên cứu, phân tích sâu sắc về thiết chế làng xã, vai trò họ tộc và lễ tục xứ Quảng; chín tập tiếp theo in nguyên văn bản chụp Hán Nôm kèm phiên âm, dịch nghĩa chi tiết của từng làng xã. Tất cả sẽ được tích hợp vào chương trình cơ sở dữ liệu Quốc gia và hệ thống dữ liệu VNCDLL của VinIF.

Xây dựng Ngân hàng dữ liệu số trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa diễn ra như vũ bão, nhất là tại một đô thị biển năng động như Đà Nẵng, mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc. Một mặt, đây là giải pháp “bảo hiểm ký ức” tối ưu.

Khi một văn bản Hán Nôm được số hóa ở tiêu chuẩn cao, dù bản gốc ngoài đời thực có gặp rủi ro bất ngờ thì dữ liệu thông tin vẫn tồn tại vĩnh viễn cho hậu thế. Mặt khác, nguồn dữ liệu gốc này chính là “bộ cẩm nang” khoa học giúp các làng xã, dòng họ ngày nay có căn cứ xác thực để nhận diện, phục hồi di sản truyền thống của ông cha một cách phù hợp, tránh những ngộ nhận, lệch lạc hoặc phục dựng cảm tính, cực đoan.

Nhưng giá trị thiêng liêng nhất, chính là tạo nên một cuộc “trở về” đúng nghĩa của di sản. Trải qua bao thăng trầm, nguồn tư liệu quý báu bị ngăn cách trong các kho lưu trữ hàn lâm nay được đưa trở lại với không gian gốc - trả về cho chính cộng đồng dòng họ, làng xã xứ Quảng. Người dân bản địa, hay những người con xứ Quảng xa quê, chỉ cần qua một cú chạm trên nền tảng số là có thể đọc được lời răn dạy của tổ tiên, hiểu được công đức khai khẩn của tiền nhân. Đó là sự tiếp nối và trao truyền văn hóa bền vững nhất.

Tiếp cận và ứng xử với di sản của tiền nhân không thể vội vã, mà cần một tâm thế nhẫn nại. Từ những bản chép tay bằng bút sắt trên giấy Tây của các học giả thế kỷ trước, đến những file số hóa độ phân giải cao trên không gian mạng hôm nay, đó là một hành trình xuyên thế kỷ của lòng tôn kính tổ tiên.

Số hóa không phải là chạy theo trào lưu công nghệ, mà là mượn đôi cánh của thời đại để neo giữ lại linh hồn đất Quảng. Ngân hàng dữ liệu số về văn hóa xứ Quảng chính là chiếc cầu nối số, đưa những giá trị ngàn xưa thăng hoa trong đời sống đương đại, để mạch nguồn văn hóa xứ Quảng mãi chảy tràn, tự tại và vững bền cùng năm tháng.

HẰNG TRẦN










Mùa hè của tôi
Báo Quảng Trị 19 phút trước





Home Icon VỀ TRANG CHỦ