Nên uống nước lá tre khô hay tươi tốt hơn?
Trong Đông, lá tre (thường gọi là Trúc diệp) là một vị thuốc có tính hàn, vị ngọt nhạt, hơi cay, quy vào kinh Tâm và Phế. Khi uống nước lá tre có tác dụng bù nước và khoáng chất tự nhiên, cung cấp các chất chống oxy hóa cho cơ thể, hỗ hỗ trợ làm sạch đường tiết niệu, kháng khuẩn, hỗ trợ tiêu hóa.
1. Lợi ích của lá tre
Khi sử dụng lá tre để nấu nước uống sẽ mang lại những lợi ích sức khỏe nhưng mỗi loại lại chứa những hợp chất khác nhau.
Lá tre tươi:Chứa hàm lượng hợp chất bay hơi rất phong phú và đậm đặc, quyết định mùi ngái và hương "xanh" đặc trưng. Các hợp chất chiếm tỉ lệ cao là hexanal, (Z)-3-hexen-1-ol, nonanal, linalool và limonene.
Trong Đông y, nhóm tinh dầu bay hơi này phối hợp với vị ngọt nhạt đặc trưng của lá tre giúp tạo nên tác dụng "khí khinh thấu nhiệt" - tức hỗ trợ thanh nhiệt, hạ sốt, làm giảm cảm giác bứt rứt khó chịu và giúp cơ thể giải nhiệt thông qua quá trình ra mồ hôi và hô hấp.
Lá tre khô: Quá trình sấy nhiệt hoặc phơi nắng thông thường làm sụt giảm từ 85% đến 95% tổng lượng hợp chất bay hơi. Một số phương pháp sấy khô có gia nhiệt cao (như sao thơm) có thể hình thành các hợp chất mới vòng pyrazine tạo mùi thơm thảo mộc sau khi sao, nhưng các aldehyd và alcohol mạch thẳng nguyên bản phần lớn đã mất đi.

Lá tre tươi hay khô đều chứa những hoạt chất có lợi ích khác nhau với sức khỏe.
Ở lá tre tươi hàm lượng chất diệp lục (chlorophyll a và b) nguyên vẹn rất cao, phối hợp với các hợp chất hữu cơ tạo nên tính hàn và khả năng thanh lọc, sinh tân dịch mạnh. Trong khi đó lá tre khô dưới tác dụng của nhiệt độ và acid hữu cơ nội sinh giải phóng khi tế bào suy biến, chlorophyll bị mất magiê và chuyển hóa thành pheophytin (khiến lá tre chuyển từ màu xanh lục sang vàng úa hoặc nâu xám). Sự biến đổi này làm giảm bớt tính hàn (lạnh) của vị thuốc khi đi vào tỳ vị.
2. Sử dụng lá tre tươi hay khô như thế nào?
Các bài thuốc cổ phương kinh điển sử dụng lá tre thường nhằm mục đích điều trị bệnh lý thuộc uất nhiệt, ôn bệnh (bệnh truyền nhiễm giai đoạn đầu hoặc thời kỳ hồi phục còn dư nhiệt) ở thượng tiêu (Tâm, Phế).
Lá tre tươi chứa trọn vẹn tinh dầu tự nhiên và tân dịch, giữ nguyên "Vị thanh, Khí khinh". Các y gia thời xưa quan niệm thuốc trị bệnh thượng tiêu phải có tính chất "nhẹ nhàng, thanh thoát" để đi lên (Trị thượng tiêu như vũ, phi khinh bất cử). Vì vậy hiệu năng của lá tre tươi giúp thấu nhiệt, giải biểu và sinh tân (tạo dòng nước mát giải khát) mạnh mẽ nhất.
Tuy nhiên, dạng khô của lá tre cũng có những ưu thế như giúp bài thuốc không gây kích ứng dạ dày, không gây lạnh bụng tiêu chảy, rất phù hợp cho những bệnh nhân có thể trạng suy nhược sau sốt cao (Hòa hoãn tính hàn, bảo vệ Vị khí).
Nguyên nhân do lúc này bệnh nhân đã cắt sốt cao nhưng vẫn còn dư nhiệt âm ỉ (sốt hâm hấp về chiều, ra mồ hôi trộm, miệng khô, người bồn chồn); lá tre khô còn đóng vai trò như một "đường dẫn", kéo cái hỏa độc đó đi xuống hạ tiêu và thải ra ngoài qua nước tiểu (triệu chứng tiểu buốt, tiểu rắt, đi tiểu đau rát).
Với những trường hợp nội nhiệt mạn tính, viêm loét niêm mạc do nóng trong hoặc cần hỗ trợ thanh nhiệt – lợi tiểu trong nhiều ngày nên sử dụng lá tre khô. Dạng dược liệu này giúp tác dụng ổn định hơn, hỗ trợ tiêu viêm và thông tiểu tốt, đồng thời ít gây lạnh bụng hay kích ứng tiêu hóa khi dùng dài ngày.
Nhìn chung, không thể khẳng định lá tre khô hay lá tre tươi tốt hơn, vì mỗi dạng đều có ưu điểm riêng tùy theo mục đích sử dụng và thể trạng người bệnh. Do đó, nhân viên y tế và người dùng cần hiểu rõ đặc tính của từng loại để lựa chọn phù hợp, nhằm đạt hiệu quả hỗ trợ điều trị tốt nhất.
DS. Trần Thị Oanh
2 giờ trước
14 phút trước
1 giờ trước
17 phút trước
11 phút trước
35 phút trước
50 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước