Năm học mới: Chuẩn bị từ ngôn ngữ, sách vở đến bữa ăn cho trẻ em vùng cao

Thêm những “điểm tựa” cho học sinh vùng cao trước năm học mới. Ảnh: Trường THPT Mù Cang Chải
Một trong những chính sách đi thẳng vào điểm nghẽn đầu cấp là Nghị quyết số 22/2026/NQ-HĐND của tỉnh Quảng Trị về dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ em là người DTTS trước khi vào lớp 1. Theo nghị quyết, giáo viên được hỗ trợ 360.000 đồng để mua một bộ đồ dùng dạy học; mỗi trẻ được hỗ trợ 310.000 đồng mua bộ đồ dùng học tập. Tiền dạy của giáo viên là 150.000 đồng/tiết, tối đa 80 tiết, tổ chức trong thời gian không quá một tháng vào dịp hè.
Tác động của khoản hỗ trợ nằm ở khả năng tiếp nhận chương trình lớp 1. Khi trẻ được làm quen với tiếng Việt và nề nếp học tập, giáo viên có thêm thời gian cho nội dung kiến thức.
Đắk Lắk cũng ban hành chính sách về nhân lực, kinh phí dạy tiếng Việt trước lớp 1, ưu tiên giáo viên am hiểu tiếng nói, văn hóa địa phương và phương pháp dạy tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai. Theo đó, tỉnh sẽ hỗ trợ cho mỗi trẻ em 1 bộ tài liệu học tiếng Việt trước khi vào lớp 1; hỗ trợ kinh phí mua đồ dùng học tập theo thực tế, tối đa 150.000 đồng/trẻ em.
Ở khâu sách giáo khoa, thành phố Huế thông qua Nghị quyết số 47/NQ-HĐND ngày 26/7/2026, miễn phí sách giáo khoa cho học sinh từ năm học 2026-2027. Nguồn lực gồm ngân sách địa phương, hỗ trợ có mục tiêu của Trung ương nếu có và các nguồn hợp pháp khác. Một bộ sách được cấp đúng lúc sẽ giảm khoản chi đầu năm, hạn chế tình trạng học sinh miền núi dùng sách thiếu hoặc không đồng bộ.
Nhiều địa phương đã chuẩn hóa danh mục trang cấp cho học sinh trường nội trú xã biên giới. Tuyên Quang ban hành Quyết định số 101/2026/QĐ-UBND; Sơn La có Quyết định số 42/2026/QĐ-UBND; Lạng Sơn có Quyết định số 49/2026/QĐ-UBND.
Theo đó, học sinh được cấp đồng phục, học phẩm hằng năm; chăn, màn, chiếu, đệm, gối và một số vật dụng sinh hoạt được cấp một lần trong mỗi cấp học. Đây cũng là căn cứ để nhà trường mua sắm, công khai cấp phát.
Tại Lào Cai, Quyết định số 22/2026/QĐ-UBND quy định địa bàn, khoảng cách để xác định học sinh không thể đi, về trong ngày. Ở nơi cách trở, ngưỡng khoảng cách là 2km với tiểu học, 4km với THCS và 6km với THPT, giáo dục thường xuyên. Kết hợp khoảng cách với địa hình giúp nhận diện cả tuyến đường dốc cao, qua suối hoặc nguy hiểm.
Nếu học phẩm là chi phí đầu năm thì bữa ăn lại quyết định khả năng bám trường từng ngày. Nghị quyết số 85/2026/NQ-HĐND của Gia Lai, áp dụng từ năm học 2026-2027, hỗ trợ thêm 160.000 đồng/trẻ mầm non/tháng cho tiền ăn trưa, tối đa 9 tháng.
Một số nhóm học sinh DTTS bán trú được hỗ trợ 700.000 đồng/tháng; học sinh DTTS thuộc hộ nghèo học tại trường ở vùng DTTS và miền núi được 240.000 đồng/tháng, tối đa 9 tháng. Nghị quyết cũng mở rộng điểm tựa cho người học nghề là người DTTS bằng học bổng, tiền mua đồ dùng cá nhân và hỗ trợ đi lại theo điều kiện quy định.
Đà Nẵng lựa chọn thêm hướng can thiệp về dinh dưỡng. Nghị quyết số 62/2026/NQ-HĐND hỗ trợ sữa tươi cho trẻ mầm non và học sinh tiểu học tại vùng DTTS, miền núi. Trẻ 24 - 36 tháng tuổi được dùng 110ml sữa/ngày; trẻ mẫu giáo và học sinh tiểu học 180ml/ngày, tối đa 5 ngày/tuần. Địa phương yêu cầu chọn nhà cung cấp trước năm học, kiểm soát chất lượng và an toàn thực phẩm.
Cũng tại Đà Nẵng, Nghị quyết số 99/2026/NQ-HĐND bổ sung chính sách tại 6 xã biên giới Tây Giang, A Vương, Hùng Sơn, La Dêê, La Êê và Đắc Pring, nơi đồng bào DTTS chiếm trên 90%.
Ngoài chế độ theo Nghị định số 188/2026/NĐ-CP, học sinh nội trú được hỗ trợ tiền ăn 1 triệu đồng/tháng, học sinh bán trú 400.000 đồng/tháng; đồng thời có hỗ trợ đi lại dịp Tết và hè, đồ dùng cá nhân, sách giáo khoa, bếp ăn và hoạt động nhà trường.
Chính sách này cho thấy một trường nội trú mới chỉ thật sự vận hành tốt khi đi cùng nguồn lực cho bữa ăn, sinh hoạt, đi lại và đội ngũ. Công trình có thể hoàn thành trước ngày khai giảng, nhưng nếu chưa có phương án nấu ăn, cấp sách, bố trí nhân sự và đưa đón học sinh, khoảng cách từ nhà đến lớp vẫn chưa được giải quyết trọn vẹn.

Đưa chính sách đến học sinh vùng DTTS và miền núi trước ngày tựu trường. Ảnh: Trường THPT Mù Cang Chải
Đưa chính sách đến học sinh trước năm học mới
Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 5/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ trọng tâm năm học 2026-2027 yêu cầu các địa phương chuẩn bị đủ giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và sách giáo khoa; ưu tiên nguồn lực cho vùng DTTS, miền núi, biên giới và địa bàn khó khăn.
Sách giáo khoa phải được bảo đảm đầy đủ trước ngày 15/8; các trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và THCS tại xã biên giới thuộc đợt đầu phải hoàn thành trước ngày 30/8, kèm phương án vận hành.
Từ yêu cầu đó, hiệu quả của chính sách địa phương sẽ phụ thuộc vào ba khâu. Trước hết là rà soát đúng đối tượng sau sắp xếp địa giới, không để học sinh phải xin xác nhận nhiều lần hoặc bị bỏ sót vì dữ liệu chưa đồng bộ.
Thứ hai là mua sắm, cấp phát công khai, đúng thời điểm; chăn, áo, sách vở đến sau khai giảng sẽ làm giảm đáng kể ý nghĩa hỗ trợ.
Thứ ba là bảo đảm nguồn lực ổn định và giám sát chất lượng bữa ăn, sữa, phương tiện đưa đón, thay vì chỉ đánh giá bằng tỷ lệ giải ngân.
Điều cần đo đếm cuối cùng là số học sinh ra lớp đúng hạn, tỷ lệ chuyên cần, tình trạng dinh dưỡng, khả năng sử dụng tiếng Việt của trẻ vào lớp 1 và số em có nguy cơ bỏ học được giữ lại. Khi các chỉ số đó chuyển biến, những khoản hỗ trợ mới thực sự trở thành đầu tư cho cơ hội học tập bình đẳng.
Loạt chính sách vừa ban hành cho thấy cách tiếp cận đang ngày càng cụ thể: không chỉ hỗ trợ sau khi học sinh đã vào trường, mà chủ động gỡ từng rào cản từ trước ngày tựu trường.
Hoàng Quý
13 phút trước
33 phút trước
30 phút trước
3 phút trước
8 phút trước
11 phút trước
17 phút trước
23 phút trước
27 phút trước