Muốn tiến xa phải tạo nhiều giá trị hơn
Trong nhiều năm, Việt Nam phát triển nhờ tăng đầu tư, mở rộng đất sản xuất, chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài.
Cách làm này phù hợp với giai đoạn đầu của công nghiệp hóa. Nhưng điều kiện hiện nay đã khác. Tiền lương tăng lên. Dân số già nhanh hơn. Đất công nghiệp, năng lượng và hạ tầng đều trở nên đắt hơn. Các thị trường xuất khẩu đặt ra yêu cầu chặt chẽ hơn về công nghệ, môi trường và nguồn gốc sản phẩm. Nền kinh tế phải tạo ra nhiều giá trị hơn từ những nguồn lực đang có.

Hoạt động xếp dỡ hàng hóa tại Cảng container quốc tế Việt Nam VICT, phường Tân Thuận, TPHCM. Ảnh: QUANG PHÚC
Việt Nam có nhiều lợi thế, nhưng lợi thế nào cũng có giới hạn. Nếu năng suất, công nghệ và năng lực quản trị không được nâng lên tương ứng, đà tăng trưởng sẽ chậm lại. Tư duy mở rộng quy mô thể hiện khá rõ trong cách nhiều địa phương thu hút đầu tư. Số khu công nghiệp, diện tích đất được chuyển đổi, vốn đăng ký và số dự án mới thường được coi là những kết quả nổi bật.
Tuy nhiên, sau 5 hoặc 10 năm, cần trả lời những câu hỏi cụ thể: 1ha đất công nghiệp tạo ra bao nhiêu giá trị gia tăng; có bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung ứng; bao nhiêu việc làm kỹ thuật có mức lương cao được tạo ra; mức sử dụng năng lượng và chi phí môi trường ra sao?
Xuất khẩu là một thành công lớn của Việt Nam. Trong 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 434 tỷ USD, tăng 24,5%. Hàng công nghiệp chế biến chiếm 90,4% tổng kim ngạch. Tuy nhiên, xét theo khu vực kinh tế, khu vực FDI tạo ra 350 tỷ USD, chiếm 80,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Khu vực kinh tế trong nước chỉ chiếm 19,3%. Trong cùng thời gian, doanh nghiệp trong nước nhập siêu trên 34 tỷ USD, còn khu vực FDI xuất siêu gần 15 tỷ USD.
Những con số này cho thấy Việt Nam có năng lực sản xuất và xuất khẩu rất lớn, nhưng vai trò của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Một sản phẩm được xuất khẩu từ Việt Nam có thể mang giá trị cao, nhưng phần thu nhập ở lại sẽ nhỏ nếu linh kiện, thiết kế, công nghệ và thương hiệu đều do doanh nghiệp bên ngoài nắm giữ.
Các ưu đãi đầu tư nên gắn với kết quả sau cấp phép: số nhà cung ứng trong nước được sử dụng, số kỹ sư Việt Nam được đào tạo, hoạt động nghiên cứu và phát triển được thực hiện tại Việt Nam, cùng mức độ chuyển giao công nghệ. Những cam kết này cần được lượng hóa và kiểm tra định kỳ.
Cách phân bổ nguồn lực cũng phải thay đổi. Vốn phải tìm đến nơi có năng suất và triển vọng. Thị trường tài chính không thể dành tỷ trọng quá lớn cho bất động sản và đầu cơ, trong khi doanh nghiệp đổi mới sáng tạo thiếu vốn dài hạn. Đất đai, năng lượng, dữ liệu và cơ hội kinh doanh phải được tiếp cận một cách minh bạch.
Khảo sát Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2025 do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố cho thấy, 75,5% doanh nghiệp không thể vay vốn nếu thiếu tài sản bảo đảm.
Nếu cơ chế tín dụng phụ thuộc quá nhiều vào tài sản thế chấp, các hoạt động nghiên cứu, công nghệ và đổi mới mô hình kinh doanh sẽ khó nhận được vốn dài hạn. Do vậy, cần phát triển mạnh hơn các hình thức cho vay dựa trên dòng tiền và phương án kinh doanh.
Thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và các quỹ đầu tư mạo hiểm phải trở thành những kênh vốn hiệu quả. Nhà nước có thể chia sẻ một phần rủi ro trong giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa công nghệ. Khi dự án bước ra thị trường, kỷ luật cạnh tranh phải được bảo đảm.
Con người là nền tảng của năng suất. Các trường đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần gắn chương trình đào tạo với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng phải dành nguồn lực cho đào tạo tại chỗ. Trong thời đại công nghệ thay đổi nhanh, kiến thức của người lao động cần được cập nhật trong suốt quá trình làm việc.
Doanh nghiệp cần chính sách ổn định, thủ tục dễ dự báo và chi phí tuân thủ hợp lý. Với doanh nghiệp nhỏ, một đơn hàng ổn định hoặc cơ hội trở thành nhà cung ứng cho một tập đoàn lớn thường thiết thực hơn các chương trình hỗ trợ chung.
Bước vào nhóm thu nhập trung bình cao là một dấu mốc quan trọng. Từ dấu mốc này, thước đo thành công phải cụ thể hơn. Đó là khả năng tạo ra và giữ lại nhiều giá trị hơn trong nền kinh tế Việt Nam.
Ông Đặng Việt Bách
Ông Bùi Xuân Bình
Bà Nguyễn Thị Hoa
GS-TS TRẦN THỌ ĐẠT
1 giờ trước
5 ngày trước
5 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
15 ngày trước
25 ngày trước
27 ngày trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
2 tháng trước
24 phút trước
10 phút trước
19 phút trước
21 phút trước
23 phút trước