🔍
Chuyên mục: Giáo dục

Một 'giảng đường' của ngôi trường 8 lần đón Bác Hồ

20 giờ trước
Nhìn lại chặng đường 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng An ninh nhân dân, có một dấu mốc đặc biệt: từ năm 1946 đến năm 1963, Bác Hồ 8 lần đến thăm Học viện An ninh Nhân dân.

Chiều 21/10/1946, sau chuyến đi dài ngày tại Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Hà Nội. Hai ngày sau, Người đến thăm Trường Huấn luyện Công an tại số 15 Trần Bình Trọng.

Chuyến thăm không được báo trước. Chỉ những người đang lưu trú tại trường được trực tiếp đón Bác. Tổng Giám đốc Nha Công an Trung ương Lê Giản đưa Người đi xem nơi ở, phòng học, phòng ăn và khu sinh hoạt của cán bộ, học viên. Ngôi trường mới thành lập, điều kiện còn đơn sơ, nhưng đang đảm nhận nhiệm vụ đào tạo những cán bộ trực tiếp bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ.

Sau khi thăm hỏi, Bác động viên thầy và trò, căn dặn cán bộ, học viên phải nỗ lực phấn đấu học tập tốt để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ chính quyền cách mạng. Hai ngày sau, Người gửi tặng nhà trường một bức chân dung có chữ ký cùng lời đề:

“Nỗ lực học tập, tặng trường cán bộ công an viên”.

Đó là lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đến ngôi trường đào tạo cán bộ công an. Trong những năm sau đó, qua các bước chuyển từ bảo vệ chính quyền non trẻ sang kháng chiến, xây dựng miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà, Bác còn nhiều lần trở lại.

Mỗi chuyến thăm diễn ra trong một hoàn cảnh khác nhau, nhưng điều Người quan tâm trước hết vẫn là con người — những cán bộ đang học tập, rèn luyện để bước vào trận tuyến bảo vệ an ninh. Qua những lần gặp gỡ ấy, Bác từng bước đặt ra những yêu cầu căn bản đối với người cán bộ công an cách mạng: nỗ lực học tập, tuyệt đối trung thành, thường xuyên tu dưỡng đạo đức, giữ nghiêm kỷ luật, có phương pháp công tác đúng và biết gần dân, dựa vào dân.

Những chuyến thăm ấy vì thế không chỉ là những kỷ niệm đặc biệt của một nhà trường. Từ “giảng đường” này, lời dạy của Bác đã theo nhiều thế hệ cán bộ bước vào cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Vì sao, giữa muôn vàn công việc hệ trọng của đất nước, Bác Hồ vẫn nhiều lần dành thời gian đến nơi đào tạo cán bộ công an? Những lời Người căn dặn đã góp phần rèn nên phẩm chất, bản lĩnh của người cán bộ An ninh cách mạng như thế nào?

Ngôi trường tại số 15 Trần Bình Trọng ra đời trong những tháng đầu tiên của chính quyền cách mạng.

Sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, lực lượng công an được hình thành ở cả ba miền với những tên gọi khác nhau, vừa xây dựng tổ chức, vừa phải lập tức đấu tranh chống các hoạt động phá hoại, giữ gìn an ninh, trật tự và bảo vệ chính quyền non trẻ. Ngày 21/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 23/SL thành lập Việt Nam Công an Vụ thuộc Bộ Nội vụ, thống nhất lực lượng về tổ chức, bộ máy, chức năng và nhiệm vụ.

Trong hoàn cảnh ấy, việc đào tạo cán bộ trở thành một yêu cầu cấp thiết. Ngày 25/6/1946, Bộ Nội vụ ban hành Nghị định số 215/NĐ-P2, thành lập Trường Huấn luyện Công an tại Nha Công an Trung ương. Tổng Giám đốc Nha Công an Trung ương Lê Giản được giao kiêm Hiệu trưởng. Đây là nghị định đầu tiên của Chính phủ về công tác giáo dục, đào tạo của lực lượng công an, cho thấy việc huấn luyện cán bộ được đặt ngay trong quá trình xây dựng bộ máy bảo vệ chính quyền.

Khóa huấn luyện công an trung cấp đầu tiên khai giảng ngày 15/7/1946, với hơn 40 học viên là Trưởng, Phó Ty, Trưởng, Phó Ban Công an các tỉnh từ Nam Trung Bộ trở ra. Khóa học kéo dài ba tháng và bế giảng vào tháng 9/1946.

Ngày 1/10 cùng năm, nhà trường tiếp tục khai giảng khóa II. Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng đến dự lễ. Việc một lãnh đạo cấp cao của Nhà nước trực tiếp dự khai giảng cho thấy công tác huấn luyện cán bộ Công an đã được quan tâm ngay từ những ngày đầu.

Trong điều kiện lực lượng còn rất non trẻ, những lớp học tập trung đầu tiên góp phần tạo nền tảng nhận thức, phương pháp và kỷ luật công tác cho đội ngũ cán bộ sẽ trở về trực tiếp đảm nhiệm nhiệm vụ tại các địa phương.

Người cán bộ công an không thể chỉ dựa vào lòng nhiệt tình cách mạng. Muốn phát hiện âm mưu chống phá, giữ gìn an ninh, trật tự và bảo vệ chính quyền trong một tình thế phức tạp, họ phải được trang bị kiến thức, rèn luyện phương pháp làm việc và đặt mình trong kỷ luật của tổ chức.

Từ những lớp học đầu tiên tại số 15 Trần Bình Trọng, công tác huấn luyện trở thành một phần trong quá trình gây dựng lực lượng Công an cách mạng.

Tại chiến khu, yêu cầu đối với người cán bộ Công an cũng được mở rộng. Kiến thức và nghiệp vụ là cần thiết, nhưng để bảo vệ chính quyền trên một địa bàn rộng lớn, lực lượng còn phải tìm được chỗ dựa bền vững nhất của mình: nhân dân.

Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Trường Huấn luyện Công an rời Hà Nội, theo các cơ quan Trung ương lên chiến khu Việt Bắc. Trong những năm đầu kháng chiến, trường lần lượt di chuyển qua Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Phúc Yên rồi lên Tuyên Quang, nhưng các lớp đào tạo, huấn luyện cán bộ Công an vẫn được duy trì.

Năm 1949, trường chuyển về thôn Tân Thái, xã Tú Thịnh, nay là xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Tại đây, khuôn viên, cơ sở vật chất và lán trại của trường lần đầu được xây dựng tương đối độc lập; chương trình, kế hoạch đào tạo cũng được chính quy hóa thêm một bước.

Nội dung học gồm Chính trị, Pháp luật, Căn cước và Nghiệp vụ công an, kết hợp học lý luận, nghe báo cáo thực tế, đi thực tế tại địa phương và kiểm tra kết quả học tập. Ngày 31/12/1949, Trường Huấn luyện Công an được đổi thành Trường Công an trung cấp.

Để chuẩn bị cho giai đoạn chuyển mạnh sang tổng phản công, Nha Công an Trung ương mở lớp Công an trung cấp khóa I, còn gọi là khóa Tổng phản công I, với 185 cán bộ công an được triệu tập từ cả ba miền Bắc, Trung, Nam.

Sáng 28/4/1950, sau chuyến công tác từ Trung Quốc trở về, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm khóa học và nhà trường. Người không đi vào bằng cổng chính mà theo lối vườn rau tăng gia của học viên. Đi cùng Bác có Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trần Duy Hưng, ông Phan Mỹ và người cần vụ. Để giữ bí mật trên đường đi, Người mặc áo sơ mi, quần nâu, đội mũ cát và quàng khăn che mặt.

Đến trường, Bác không vào hội trường ngay. Người đi thẳng xuống nhà bếp, nhà ăn, xem từng chiếc chảo, nơi đựng thức ăn, nước uống và chỗ để bát đũa của cán bộ, học viên. Sau đó, Bác mới lên thăm nơi sinh hoạt, học tập và nói chuyện với lớp Tổng phản công I.

Trong buổi nói chuyện, Người nhắc Công an không chỉ là bạn của dân mà còn phải là đầy tớ của nhân dân, phải ra sức phục vụ và bảo vệ nhân dân.

Rồi Bác chậm rãi lấy từ túi áo một bức thư của một cụ già ở tỉnh Hà Nam gửi cho Người và đọc cho cả lớp nghe. Bức thư phàn nàn về công việc của công an. Bác phân tích, phê bình những việc chưa đúng và nhắc rằng lần sau Người đến thăm trường phải là một thư khen, chứ không phải thư chê công an.

Một năm sau, bài học ấy được Người nói rõ hơn.

Năm 1951, Trường Công an trung cấp sơ tán về thôn Vĩnh Khoái, xã Yên Nguyên, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang (cũ). Khu trường khi ấy chỉ có một trạm gác dưới chân đồi, một phòng học lớn và một lán ăn cho học viên, đều dựng bằng tranh, tre, nứa, lá; cán bộ, giáo viên ở phân tán trong nhà dân quanh thôn. Trường đang mở lớp Tổng phản công II với 98 học viên.

Trên đường công tác sau Chiến dịch Biên giới trở về Tân Trào, vào một buổi chiều tháng 1/1951, Bác dừng chân tại nhà cụ Chánh Kỳ. Sau bữa cơm tối, Người đến thẳng nơi học tập của lớp Tổng phản công II để nói chuyện với cán bộ, giáo viên và học viên.

Bác phân tích, nhiệm vụ của công an là giữ gìn trật tự, an ninh cho nhân dân, phát hiện những âm mưu phản động làm hại nhân dân và thực sự phục vụ nhân dân.

Từ đó, Bác lấy một thí dụ rất cụ thể:

“Công an có bao nhiêu người? Dù có vài ba nghìn hay năm bảy vạn đi nữa thì lực lượng ấy vẫn còn ít lắm bên cạnh lực lượng nhân dân, 5 vạn người thì chỉ có 5 vạn cặp mắt, 5 vạn đôi bàn tay. Phải làm sao có hàng chục triệu cặp mắt và đôi tai mới được”.

Lực lượng công an dù đông đến đâu vẫn hữu hạn. Muốn phát hiện những âm mưu, hoạt động chống phá có thể ẩn giấu trong đời sống rộng lớn, công an phải dựa vào nhân dân, không được xa rời dân.

Bác khẳng định: “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”.

Nhưng sự giúp đỡ ấy không tự nhiên mà có. Theo Bác, muốn được dân giúp, người công an phải thực sự trung thành, tôn kính và thương yêu dân; phải làm cho được lòng dân bằng những việc làm thiết thực, chứ không phải bằng sự khéo léo bề ngoài. Trong nội bộ phải thực hành dân chủ, tự phê bình và phê bình; đối với nhân dân phải khuyến khích dân góp ý, đúng thì tiếp thu, chưa đúng thì giải thích.

Từ lá thư phê bình năm 1950 đến lời dạy về hàng chục triệu “cặp mắt và đôi tai” năm 1951, Bác đã chỉ ra một mối quan hệ rất rõ: muốn dựa vào dân, trước hết phải phục vụ dân; muốn được dân tin, phải biết lắng nghe dân, tôn trọng dân và nghiêm túc sửa chữa khuyết điểm.

Sức mạnh của công tác an ninh vì thế không chỉ nằm trong tổ chức, nghiệp vụ hay số lượng cán bộ. Sức mạnh ấy nằm trong nhân dân.

Để xứng đáng với lòng tin và sự giúp đỡ ấy, người cán bộ an ninh còn phải thường xuyên rèn luyện về tư tưởng, đạo đức, kỷ luật và phương pháp công tác. Đó là những yêu cầu Bác tiếp tục đặt ra khi đất nước và lực lượng bước vào một giai đoạn cách mạng mới.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình lập lại ở miền Bắc, Trường Công an Trung ương rời chiến khu Việt Bắc trở về miền xuôi. Từ tháng 10/1954, trường được xây dựng lại trên khu đất cao cạnh sông Nhuệ, gần cầu Am, thị xã Hà Đông; đến giữa năm 1955, cơ sở mới cơ bản hoàn thành và các lớp huấn luyện cán bộ tiếp tục được mở để phục vụ nhiệm vụ xây dựng miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà.

Trong tháng 1/1958, nhân dịp dự Hội nghị phát động phong trào thi đua chống hạn của tỉnh Hà Đông tổ chức tại trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp cán bộ, học viên và nói về trách nhiệm của lực lượng Công an trong giai đoạn tiến lên chủ nghĩa xã hội. Người yêu cầu cán bộ phải nâng cao chí khí cách mạng, tinh thần cảnh giác; tu dưỡng tư tưởng, rèn luyện tác phong, gương mẫu trong học tập, công tác và đạo đức cách mạng.

Kết thúc buổi nói chuyện, Bác tặng hội nghị bài thơ:

Đoàn kết, cảnh giác,
Liêm, chính, kiệm, cần.
Hoàn thành nhiệm vụ,
Khắc phục khó khăn,
Dũng cảm trước địch,
Vì nước quên thân,
Trung thành với Đảng,
Tận tụy với dân.

Tám câu thơ ngắn gọn đặt cạnh nhau những phẩm chất không thể tách rời của người cán bộ Công an cách mạng: đoàn kết nhưng luôn cảnh giác; dũng cảm trước kẻ địch, nghiêm khắc với chính mình; trung thành với Đảng và tận tụy phục vụ nhân dân.

Ở một lần khác trong năm học 1957–1958, Bác tiếp tục đi sâu vào việc rèn luyện tư tưởng, đạo đức và phương pháp công tác. Người nhắc cán bộ phải chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao tính tổ chức, kỷ luật; công tác phải đi sâu, thiết thực, có điều tra, nghiên cứu, không được tự kiêu, tự đại.

Bác chỉ rõ: “Công an đánh địch bên ngoài đã khó, đánh địch bên trong còn khó khăn hơn”.

“Địch bên ngoài” là những thế lực chống phá mà lực lượng Công an phải phát hiện, đấu tranh. Còn “địch bên trong” trước hết là chủ nghĩa cá nhân cùng những biểu hiện như so bì, hưởng thụ, tự do chủ nghĩa, ba phải, nể nang, chủ quan và tự mãn. Bác ví chủ nghĩa cá nhân như cỏ dại, nếu không thường xuyên rèn luyện, phê bình và tự phê bình thì rất dễ sinh sôi, nảy nở.

Muốn hoàn thành nhiệm vụ, cán bộ công an còn phải đi đúng đường lối quần chúng, đoàn kết trong nội bộ, đoàn kết với các ngành và gắn bó với nhân dân.

Từ đầu năm 1959, trường bắt đầu chuyển từng bộ phận về cơ sở mới tại Tân Triều[DD1.1] (khi đó thuộc tỉnh Hà Đông). Tháng 3/1959, lực lượng Công an nhân dân vũ trang được thành lập; tháng 5 cùng năm, Bộ Công an mở lớp Chính huấn khóa II để bồi dưỡng chính trị, nghiệp vụ và pháp luật cho đội ngũ cán bộ, sĩ quan.

Ngày 16/5/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với học viên lớp học. Người nhấn mạnh nhiệm vụ của công an tuy nặng nề, gian khổ nhưng rất vẻ vang; muốn hoàn thành nhiệm vụ phải thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng, nâng cao tinh thần trách nhiệm và chống chủ nghĩa cá nhân.

Bác căn dặn: “Làm công an thì phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ. Có dựa vào nhân dân thì công an mới hoàn thành được tốt nhiệm vụ của mình”.

Cuối bài nói chuyện, Người tóm lại hai yêu cầu:“1. Phải trau dồi đạo đức cách mạng. 2. Phải nâng cao tinh thần trách nhiệm. Muốn vậy phải luôn luôn chống chủ nghĩa cá nhân”.

Tháng 1/1960, Trường Công an Trung ương được chọn làm nơi tổ chức Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 14. Trong bài nói chuyện với các đại biểu, Bác biểu dương những tiến bộ của lực lượng, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong nhận thức tình hình, nắm âm mưu của địch và tổ chức lực lượng.

Người yêu cầu cán bộ, chiến sĩ phải luôn nâng cao trình độ giác ngộ; đoàn kết chặt chẽ trong nội bộ, giữa công an nhân dân và công an nhân dân vũ trang, giữa công an với nhân dân; đồng thời phải dựa vào lực lượng to lớn của nhân dân. Cán bộ lãnh đạo không chỉ tự mình thấu suốt chính sách của Đảng và đi đúng đường lối quần chúng, mà còn phải làm cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ thực hiện được điều đó.

Đến ngày 29/4/1963, khi tình hình an ninh, trật tự ở miền Bắc diễn biến phức tạp, Bác đến nói chuyện tại Hội nghị cán bộ ngành Công an tổ chức ở trường. Người khẳng định: “Công an cách mạng là một vũ khí sắc bén của chuyên chính vô sản. Cho nên nhiệm vụ công an là cực kỳ quan trọng”.

Bác yêu cầu lực lượng phải luôn nâng cao cảnh giác; công tác phải tích cực, khẩn trương và bền bỉ; phải đi sâu, đi sát, tránh chủ quan, có kế hoạch chu đáo và quyết tâm lâu dài. Muốn phát động được nhân dân tham gia bảo vệ trị an, Công an phải hết lòng giúp đỡ nhân dân và dựa vào lực lượng hùng mạnh của nhân dân.

Người bày tỏ niềm tin: “Đảng và Chính phủ tin vào lòng tuyệt đối trung thành và chí kiên cường phấn đấu của các đồng chí”.

Qua những lần trở lại trường trong giai đoạn mới, các lời căn dặn của Bác ngày càng hoàn chỉnh chân dung người cán bộ An ninh cách mạng: có lập trường vững vàng, tuyệt đối trung thành; thường xuyên rèn luyện đạo đức, chống chủ nghĩa cá nhân; nghiêm trong tổ chức, kỷ luật; sâu sát, khoa học trong công tác và luôn gắn bó với nhân dân.

Từ số 15 Trần Bình Trọng giữa Hà Nội đến những lớp học đơn sơ ở chiến khu Việt Bắc, rồi cơ sở mới tại Hà Đông, mỗi lần Bác Hồ trở lại trường đều gắn với một chặng đường khác của cách mạng và những nhiệm vụ mới đặt ra đối với lực lượng Công an.

Qua những chuyến thăm ấy, sự quan tâm của Người hiện lên từ những điều rất gần gũi: xem nơi ăn ở, phòng học, bếp ăn; hỏi chuyện thầy và trò; đọc một lá thư của dân; căn dặn từ việc học tập, rèn luyện đạo đức đến phương pháp công tác và mối quan hệ với nhân dân.

Rồi các khóa học khép lại. Học viên trở về đơn vị, địa phương, bước vào những nhiệm vụ mới. Những lời Bác dạy cũng theo họ rời “giảng đường”, đi vào từng công việc và những cuộc đấu tranh thầm lặng trên trận tuyến bảo vệ an ninh.

Từ lời căn dặn “Nỗ lực học tập” trong lần đầu đến trường, bài học phải gần dân, dựa vào dân ở chiến khu Việt Bắc, đến những yêu cầu về lòng trung thành, đạo đức, kỷ luật, tinh thần cảnh giác và phương pháp công tác trong giai đoạn xây dựng miền Bắc, Người từng bước bồi đắp những phẩm chất làm nên người cán bộ an ninh cách mạng.

Sau 80 năm, không gian bảo vệ an ninh quốc gia đã mở rộng từ đời sống thực đến không gian mạng, dữ liệu, kinh tế và những thách thức phi truyền thống. Nhiệm vụ có thể thay đổi, nhưng những yêu cầu Bác từng đặt ra đối với người cán bộ Công an - học tập nghiêm túc, giữ mình trong sạch, làm việc sâu sát và luôn dựa vào nhân dân - vẫn là nền tảng để lực lượng hoàn thành trách nhiệm trong những điều kiện mới.

Dấu ấn sâu đậm nhất của những lần Bác về thăm trường vì thế không chỉ nằm trong những địa danh hay mốc thời gian được lưu lại. Dấu ấn ấy hiện diện trong các thế hệ cán bộ đã từ “giảng đường” bước ra trận tuyến, tiếp nối nhau gìn giữ và mài sắc “thanh bảo kiếm” bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Thiếu tướng, Tiến sỹ Nguyễn Hồng Thái
Nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Công an Nhân dân.

Nguyễn Hồng Thái

Nguyễn Đình Đoàn Bổng

TIN LIÊN QUAN














Home Icon VỀ TRANG CHỦ