🔍
Chuyên mục: Du lịch

Miền bất tử bên dòng sông Mã

2 giờ trước
Chiều tháng bảy, khi mặt trời còn vắt một dải nắng mỏng lên dòng sông Mã, tôi bước qua cánh cổng Nghĩa trang Liệt sĩ Hàm Rồng. Giữa phố thị ồn ào, nơi đây như một khoảng lặng có thể nghe được tiếng thời gian trôi qua trên những hàng bia mộ.

Nghĩa trang Liệt sĩ Hàm Rồng ngày tháng bảy. Ảnh: Hoàng Đông

Nắng trải một màu vàng dịu lên những vòm cây, gió đưa mùi hương trầm thoảng qua, mỏng nhẹ. Từng sợi khói mỏng manh cứ thế bay lên, quấn quýt rồi tan vào hư không như mang theo những lời thì thầm chưa bao giờ dứt giữa người ở lại dành cho người đi xa.

Hai hàng xà cừ già lặng lẽ đón bước chân người. Thân cây xù xì hằn lên dấu vết của thời gian, tán lá vẫn vươn cao ôm lấy cả một khoảng trời xanh thẳm. Trải qua bao mùa mưa nắng, bao bão dông, những cây cà cừ vẫn bền bỉ đứng đó canh cho giấc ngủ bình yên của các anh.

Giữa những nhộn nhịp của phố phường, Nghĩa trang Liệt sĩ Hàm Rồng là một thế giới hoàn toàn khác. Không còn tiếng còi xe, không còn bước chân vội vã, ở đây chỉ có mùi hương trầm quyện trong tiếng lá chạm vào nhau rất khẽ. Không biết tự lúc nào, tôi cũng không dám bước mạnh, tôi sợ làm xao động điều gì đó rất thiêng liêng đang hiện hữu ở nơi này.

Trước mắt tôi là những hàng bia trắng nối đuôi nhau tít tắp. Không có một khoảng trống thừa nào, cũng không có tấm bia này nổi bật hơn tấm bia kia. Tất cả bình yên, lặng lẽ như những trang sách khép lại sau một hành trình dài. Chỉ có gió từ dòng sông Mã vẫn đều đặn thổi qua khiến những tán lá xanh cựa mình tỉnh giấc. Đâu đó, tiếng chim cất lên rồi tan vào khoảng không tĩnh mịch. Mùi hương trầm theo gió lan ra khắp nghĩa trang, quấn quýt trên những hàng bia mộ, khiến cả không gian như được phủ lên một màu ký ức.

Những hàng bia không còn là những phiến đá vô hồn, mà mỗi tấm bia là một cuộc đời đã dừng lại ở độ tuổi rực rỡ nhất. Có người còn nguyên tên tuổi, quê quán, có người chỉ dừng lại ở vài dòng chữ ngắn ngủi. Cũng có những phần mộ lặng im đến mức người đứng trước chỉ biết cúi đầu. Những dòng chữ trên bia rất ít, nhưng phía sau là rất nhiều người đang ngóng trông...

Đứng giữa hàng bia mộ, tôi thấy mình nhỏ bé trước những tuổi xuân đã ở lại nơi này. Có những mùa xuân đã dừng lại để đất nước có thêm bao mùa xuân khác. Có những bước chân không bao giờ trở lại để đổi lấy bao bước chân được bình yên của ngày hôm nay.

Tháng bảy, từ sáng sớm đến khi nắng chiều nghiêng xuống dòng sông Mã, những bước chân vẫn cứ lặng lẽ tìm về. Không ai hẹn ai, nhưng ai cũng hiểu rằng, đến ngày này, mình phải quay trở lại.

Một người mẹ tóc đã bạc cúi xuống lau tấm bia trước mặt. Chiếc khăn trên tay bà đi rất chậm như sợ làm đau từng con chữ đã mờ theo năm tháng. Lau xong, bà cắm lại bình hoa, sửa ngay ngắn bát hương rồi ngồi lặng thật lâu. Bà không khóc. Chỉ có đôi bàn tay gầy guộc vẫn đặt ở mép mộ như nắm lấy tay đứa con bé bỏng năm nào. Có những cuộc trở về không phải đế gặp lại ai, mà để hâm nóng những nỗi nhớ chưa bao giờ nguội lạnh.

Cách đó không xa, một người đàn ông mặc bộ quân phục cũ, ông đứng đó rất lâu trước một hàng bia mộ. Mái tóc ông đã bạc gần hết, tấm huân chương trên áo ngực lấp lánh dưới nắng chiều. Ông không thắp nhiều hương, cũng không nói điều gì, chỉ đưa tay chào theo điều lệnh rồi cứ đứng nghiêm như thế. Cái chào ngắn ngủi ấy dường như đã thay cho biết bao nhiêu câu chuyện của những năm tháng cùng nhau băng rừng, lội suối, cùng chia nhau một bi đông nước, một miếng lương khô và lời hẹn ngày toàn thắng trở về.

Bên cạnh ông là một bạn nhỏ. Em cẩn thận châm từng nén hương, vụng về cắm xuống trước mỗi phần mộ rồi ngước lên nhìn ông như chờ đợi một lời giải thích. Có lẽ, em chưa hiểu hết chiến tranh là gì, chưa hiểu vì sao những người nằm dưới những tấm bia kia lại được nhiều người yêu thương đến thế. Nhưng rồi, khi lớn lên em sẽ hiểu được rằng, lòng biết ơn cũng được truyền lại như một dòng máu, từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Ở cuối lối đi, một người phụ nữ ôm bó cúc trắng bước đi thật chậm. Chị dừng lại trước từng phần mộ, lặng lẽ thắp hương rồi tiếp tục bước đi. Có thể, người chị cần tìm đang nằm ở đâu đó mà chưa được gọi tên, cũng có thể chị chỉ muốn thắp nén tâm nhang cho những người lính đã ngã xuống vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Dưới làn khói mỏng của tháng Bảy, ranh giới giữa người thân và người dưng dường như không còn nữa. Đứng trước sự hy sinh cao cả ấy, tất cả chỉ còn lại hai tiếng “đồng bào” thiêng liêng.

Một cựu chiến binh khoác trên mình bộ quân phục chỉn chu, chậm rãi bước giữa hai hàng mộ trắng. Ảnh: Hoàng Đông

Chiều dần buông, tất cả dòng người vẫn cứ lặng lẽ đi giữa những hàng bia trắng. Mỗi người mang theo một lý do để trở về, nhưng khi cúi đầu trước những phần mộ, mọi người đều có chung một tâm niệm, đó là lòng biết ơn. Điều đó giúp tôi hiểu rằng, có những cuộc trở về chưa bao giờ là muộn. Chừng nào còn có người tìm về thắp một ném hương, gọi thầm một cái tên hay chỉ đơn giản đứng lặng trước một hàng bia trắng, thì những người đã nằm xuống chưa bao giờ bị lãng quên.

Tôi dừng lại trước tấm bia mang tên Lê Đình Chinh, mười tám tuổi. Không phải tấm bia ấy khác những tấm bia còn lại, mà chỉ bấy nhiêu chữ thôi cũng khiến tôi đứng lặng. Mười lăm tuổi, anh khoác ba lô lên đường nhập ngũ. Mười tám tuổi, anh vĩnh viễn dừng lại nơi biên cương của Tổ quốc. Rồi phải ba mươi lăm năm sau, anh mới được trở về nằm trong lòng đất mẹ.

Tôi đứng rất lâu trước phần mộ ấy. Gió vẫn xào xạc trên những tán cây, khói hương vẫn lặng lẽ tan vào khoảng trời tháng Bảy. Mọi thứ vẫn chuyển động, chỉ có tuổi mười tám của người lính mãi mãi dừng lại rồi hòa mình với dòng thiêng sông núi.

Mười tám tuổi, nhiều người vừa rời ghế nhà trường, vừa biết rung động trước một ánh mắt, vừa bắt đầu mơ về một tương lai. Còn những người lính đang nằm lại nơi đây, lại bắt đầu bằng một con đường khác. Họ rời gia đình, rời vòng tay mẹ, rời những ước mơ bình dị... để nhận lấy nhiệm vụ thiêng liêng mà Tổ quốc giao phó. Một đời người có thể dài tám mươi năm, còn cuộc đời anh chỉ dừng lại ở tuổi mười tám, nhưng chừng ấy năm tháng cũng đủ để Tổ quốc khắc ghi tên anh.

Rời phần mộ anh Lê Đình Chinh, tôi tiếp tục đi giữa hàng bia trắng. Đến cuối nghĩa trang, hai phần mộ khiến tôi phải dừng lại. Không phải chúng lớn hơn phần mộ khác mà bởi sự lặng lẽ, không một cái tên, không một quê quán, không một năm sinh... Chỉ có tấm bia trắng và những nén hương vẫn còn nghi ngút khói.

Tôi khẽ hỏi nhỏ người quản trang. Ông hạ giọng như sợ đánh thức giấc ngủ bình yên của những người đang nằm dưới lòng đất kia. Đó là hai ngôi mộ tập thể của những người lính tình nguyện Việt Nam, các anh hy sinh khi làm nhiệm vụ quốc tế bên nước bạn Lào.

Ngày đồng đội tìm được các anh, chiến tranh và thời gian đã xóa nhòa đi mọi dấu vết. Những hài cốt nằm xen lẫn vào nhau, chẳng còn cách nào nhận biết. Cuối cùng, các đồng đội chỉ còn cách đưa các anh trở về, cùng nằm lại một huyệt mộ. Lúc ấy, tôi mới thấm thía rằng, có những người đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho Tổ quốc, đến ngày trở về, ngay tên mình cũng không còn để gọi.

Đứng trước hai ngôi mộ tập thể ấy, tôi bỗng nghĩ đến biết bao gia đình vẫn chưa khép lại cuộc kiếm tìm. Đâu đó vẫn còn người mẹ ngóng tin con, người vợ ngóng tin chồng, người em ngóng tin anh... Và những đứa con mường tượng ra hình bóng của cha qua lời kể của mẹ.

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng có những cuộc hành quân chưa bao giờ kết thúc. Có những người đến hôm nay vẫn còn nằm lại đâu đó nơi núi rừng, giữa lòng sông, hay một nơi nào đó mà Tổ quốc chưa kịp gọi tên. Tôi lặng lẽ cúi đầu thật lâu, rồi mắt nhòa đi lúc nào không biết. Rời hai ngôi mộ tập thể mà lòng tôi trĩu nặng. Không biết vì làn khói hương còn vương trên áo, hay vì sự im lặng của những tấm bia không tên.

Giữa dòng người lặng lẽ đi về trong buổi chiều tháng Bảy, hình ảnh những người mẹ cúi đầu trước phần mộ con cứ chập chờn trước mắt. Và bất giác, tôi nhớ đến mẹ mình.

Tháng Bảy năm nào cũng vậy, mẹ tôi lại lặng lẽ đứng lau tấm ảnh cũ trên bàn thờ người anh trai. Mẹ lau rất chậm, như sợ làm phai đi gương mặt rạng ngời trong bức ảnh đã ngã màu theo năm tháng. Bên cạnh di ảnh là tờ giấy báo tử được ép rất cẩn thận, mép giấy đã ố vàng, những nếp gấp hằn sâu như dấu vết của thời gian.

Mẹ hiếm khi nhắc đến bác. Chỉ mỗi độ tháng Bảy về, khi nén hương thơm trên bàn thờ được thắp lên, mẹ mới lặng người nhìn thật lâu vào di ảnh, rồi khẽ vuốt lại tờ giấy báo tử đã cũ. Trong căn nhà nhỏ, khói hương bay lên chậm rãi, mang theo một nỗi đợi chờ đã kéo dài hơn nửa thế kỷ.

Bác tôi hy sinh trong những năm tháng chống Mỹ. Ngoài tờ giấy báo tử ra, gia đình tôi chưa bao giờ biết bác nằm ở đâu trên dải đất hình chữ S này. Không một phần mộ để tìm về, không một tấm bia để đặt lên đó bó hoa hay nén hương thơm vào những ngày tháng Bảy. Mỗi lần đi qua một nghĩa trang liệt sĩ, mẹ đều dừng lại rất lâu. Có lẽ, trong lòng mẹ vẫn đau đáu một câu hỏi: Biết đâu, ở một nơi nào đó, giữa hàng ngàn hàng bia trắng ấy, cũng có anh mình đang yên nghỉ.

Đứng giữa Nghĩa trang Liệt sĩ Hàm Rồng chiều nay, tôi bỗng hiểu rằng, câu chuyện của những người mẹ mình vừa gặp cũng chính là câu chuyện của mẹ mình. Nỗi đợi chờ ấy không thuộc riêng về một gia đình nào. Nó lặng thầm trôi qua theo năm tháng, đi cùng mái đầu bạc, những bàn tay nhăn nheo và những mùa tháng Bảy vẫn đều đặn trở về.

Tôi bước ra khỏi nghĩa trang khi nắng cuối ngày đang tắt dần trên dòng sông Mã. Dòng sông vẫn lặng lẽ chảy về phía biển như bao đời nay vẫn thế. Gió từ sông Mã miệt mài thổi qua những tán cây già, khói hương vẫn bảng lảng trên những hàng bia trắng. Và tôi chợt hiểu, bên dòng sông ấy không chỉ có một nghĩa trang, mà còn có một miền bất tử. Đó là nơi những người lính đã hóa thân vào hồn thiêng sông núi, để từ sự hy sinh của các anh, đất nước được bình yên và những mùa xuân của Tổ quốc sẽ trường tồn mãi mãi.

Hà Đan (CTV)

TIN LIÊN QUAN















Home Icon VỀ TRANG CHỦ